Chương 1: Lý luận về phân tích hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy (54 trang) Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam (53 trang) Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam (42 trang) 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong những năm vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực PCCC, huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực PCCC được công bố, cụ thể bao gồm: 1. Joseph E Stiglitz (1995), trong cuốn Kinh tế học công cộng, phần II với tiêu đề lý thuyết về chi tiêu công cộng, bằng góc nhìn tổng quát về hàng hóa công cộng, tác giả đã tập trung bàn về các vấn đề lý thuyết chung về hàng hóa công cộng và hàng hóa công cộng do tư nhân sản xuất, cung cấp; sản xuất công cộng và bộ máy hành chính; phương thức hợp đồng sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng giữa Nhà nước và tư nhân. Đây là những vấn đề lý luận cơ bản, làm nền tảng cho việc nghiên cứu, phát triển lý luận về dịch vụ, hàng hóa công cộng PCCC và cơ chế huy động, sử dụng nguồn tài chính; phân tích hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng nói chung, sản xuất, cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cộng PCCC nói riêng. Vụ Chế độ Kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính (2013), trong cuốn sách “Tài liệu bồi dưỡng kế toán trưởng đơn vị kế toán nhà nước”, Nhà xuất bản Tài chính đã đưa ra khung lý thuyết khá đầy đủ về phân tích báo cáo tài chính nói chung và phân tích báo cáo tài chính đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN nói riêng, cụ thể: - Về phân tích báo cáo tài chính nói chung, các nội dung bao gồm: + Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính: chỉ ra một cách tổng hợp về tình hình hoàn thành các mục tiêu của các chủ thể bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật - tài chính và các nguyên nhân dẫn đến sai lệch trong thực hiện các chỉ tiêu đó; qua đó đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý, giúp cho các nhà quản lý tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động thuộc chức năng của đơn vị, nhằm nâng cao kết quả hoạt động; đồng thời, tài liệu phân tích còn là những căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển của cơ quan, đơn vị.
+ Nội dung phân tích tập trung vào các chỉ tiêu về kết quả hoạt động (khối lượng công việc, chi phí cho một đơn vị công việc) và mối liên hệ của các chỉ tiêu này với các chỉ tiêu về điều kiện (yếu tố) của quá trình hoạt động (cán bộ, kinh phí). + Các chỉ tiêu thường dùng: (i) theo tính chất của chỉ tiêu, có chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng; (ii) theo phương pháp phân tích, có chỉ tiêu tuyệt đối, chỉ tiêu tương đối và chỉ tiêu bình quân. 6 + Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính: (i) theo nội dung kinh tế của nhân tố, có những nhân tố về điều kiện hoạt động (số lượng cán bộ, công chức, số lượng tài sản, kinh phí); (ii) theo tính tất yếu của nhân tố, có nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan; (iii) theo tính chất của nhân tố, có nhân tố số lượng (phản ánh quy mô, kết quả hoạt động) và nhân tố chất lượng (phản ánh hiệu suất hoạt động); (iv) theo xu hướng tác động của nhân tố, có nhân tố tích cực và nhân tố tiêu cực. + Các phương pháp phân tích: phương pháp tỷ lệ, phương pháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ.
+ Tổ chức phân tích báo cáo tài chính là vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích để đánh giá đúng kết quả, chỉ ra những tồn tại và tìm biện pháp sửa chữa thiếu sót trong hoạt động, bao gồm các loại sau: (i) theo tính chất về thời gian tiến hành, có phân tích định kỳ theo tháng, quý, năm; (ii) theo nội dung phân tích, có phân tích chuyên đề hoặc phân tích toàn diện; (iii) theo phạm vi phân tích, có phân tích điển hình và phân tích tổng thể; (iv) theo lĩnh vực và cấp quản lý, có phân tích bên ngoài và phân tích bên trong. + Tổ chức lực lượng phân tích có thể được thực hiện như sau: các bộ phận chức năng đảm nhiệm các phần hành phân tích phù hợp với lĩnh vực công tác của mình; hội đồng phân tích của đơn vị giúp cho thủ trưởng đơn vị toàn bộ về công tác tổ chức phân tích kinh tế - tài chính. + Quy trình tổ chức phân tích gồm: xây dựng kế hoạch phân tích; sưu tầm và kiểm tra tài liệu; xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích; viết báo cáo và tổ chức hội nghị phân tích. - Về những nội dung cụ thể của phân tích báo cáo tài chính đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gồm: + Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp thuần túy: phân tích tổng quan tình hình tài sản và nguồn vốn; phân tích mối liên hệ giữa tài sản, kinh phí với nguồn vốn, nguồn kinh phí của đơn vị; phân tích tình hình quản lý sử dụng kinh phí NSNN.
Trong đó chỉ rõ cơ sở số liệu phục vụ cho việc phân tích được lấy từ các báo cáo, sổ kế toán nào và quy trình phân tích chi tiết. + Đối với đơn vị sự nghiệp công lập: (i) phân tích tình hình thực hiện tiết kiệm chi phí với các phương pháp được sử dụng (phương pháp phân chia hiện tượng, phương pháp so sánh) và nguồn lấy số liệu từ các báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu dự toán, dự toán chi và sổ chi tiết hoạt động; (ii) phân tích tình hình khai thác nguồn thu với phương pháp sử dụng là phân chia hiện tượng và kết quả tài chính được sử dụng và 7 cơ sở dữ liệu lấy từ dự toán thu và sổ chi tiết các khoản thu, sổ chi tiết doanh thu hoặc có thể lấy số liệu trong báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh; (iii) phân tích kết quả tài chính với phương pháp sử dụng là phương pháp cân đối và nguồn dữ liệu lấy từ báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù chưa đề cập đến các đơn vị sử dụng NSNN có tính chất đặc thù như các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực PCCC. Song nội dung trên đây của cuốn “Tài liệu bồi dưỡng kế toán trưởng đơn vị kế toán nhà nước” đã cung cấp không những các lý luận cơ bản mà còn cung cáp nhưng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ nền tảng để nghiên cứu sinh tiếp thu, phát triển nội dung về lý luận và thực trạng phân tích hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực PCCC trong luận án tiến sĩ của mình.
Phạm Chí Thanh (2011), trong luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam” đã tập trung phân tích, luận giải những vấn đề lý luận về chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công; thực trạng chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam. Trong đó, các giải pháp cơ bản thực hiện đổi mới chính sách tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công được đề xuất gồm: tiếp tục hoàn thiện phân cấp quản lý tài chính; đổi mới cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động; chuyển chính sách quản lý phí và lệ phí sang quản lý giá dịch vụ; chuyển các đơn vị sự nghiệp sang thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí. Tuy chưa đề cập đến đổi mới chính sách tài chính đối với các đơn vị trong lĩnh vực PCCC, song những vấn đề mà luận án đã phân tích, luận giải và đề xuất đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết để vận dụng, nghiên cứu về các giải pháp đổi mới cơ chế huy động và sử dụng nguồn tài chính đối với lĩnh vực PCCC trong luận án tiến sĩ của mình. Đặng Văn Du (2004), trong luận án tiến sĩ với đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam” đã tập trung xây dựng các chỉ tiêu phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tài chính cho đào tạo đại học nước ta như: - Nhóm giải pháp nâng cao “hiệu quả trong”: áp dụng cơ chế trả lương cho giáo viên theo số lượng và chất lượng lao động; hạ tỷ lệ sinh viên/giáo viên; đầu tư cơ sở hạ tầng cho đào tạo đại học; đầu tư cho chương trình và tài liệu môn học.
Việc đánh giá 8 chất lượng lao động dựa vào nhiệm vụ mà giáo viên phải thực hiện (về giảng dạy, nghiên cứu khoa học), chuẩn chất lượng chung của giáo viên và chuẩn đánh giá giáo viên chuyên môn xuất sắc. - Nhóm các giải pháp nâng cao “hiệu quả ngoài”: đổi mới cơ chế phân cấp quản lý; từng bước thực hiện công bằng trong đào tạo đại học; việc phân bổ kinh phí thường xuyên từ NSNN cho trường đại học phải được coi là khoản kinh phí để thực hiện đơn đặt hàng và thực hiện cơ chế đấu thầu; gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo đại học. Mặc dù luận án luận giải, phân tích về cơ sở lý luận và thực tế áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho lĩnh vực giáo dục đại học, song những nội dung này có tính gợi mở giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng và áp dụng một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả huy động và sử dụng nguồn tài chính trong lĩnh vực PCCC trong luận án tiến sĩ của mình.