CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN 1. KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động công ty Theo Ngô Đình Giao (1997) hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Theo Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2001) thì hiệu quả hoạt động công ty được xem xét trong mối quan hệ giữa đầu ra là kết quả của DN (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với đầu vào là nguồn lực sử dụng (TS, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…) Chỉ tiêu chung về hiệu quả cơ bản được tính như sau: Hiệu quả = Đầu vào/Đầu ra Trong đó “Đầu ra” bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận.
“Đầu vào” thường bao gồm các yếu tố như vốn chủ sở hữu, tài sản, các loại tài sản… Như vậy hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế, phản ánh nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đặt ra. Do đó hiệu quả hoạt động không chỉ phản ánh được thực trạng kinh doanh của công ty mà còn là vấn đề sống còn của công ty trong nền kinh tế thị trường. Hiệu quả của một công ty phải được xem xét một cách tổng thể các hoạt động của công ty. Hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính có mối quan hệ mật thiết, do đó khi phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty cần xem xét hiệu quả của hai hoạt động này.
Một công ty có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao nhưng không có hiệu quả trong hoạt động Luan van 9 tài chính hoặc hiệu quả tài chính thấp do các chính sách tài trợ không phù hợp có thể dẫn đến hiệu quả hoạt động của cả công ty giảm sút. Ngoài ra hiệu quả hoạt động của công ty phải được xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian. Trong mối quan hệ không gian, cần xem xét hiệu quả hoạt động của công ty với các công ty cùng ngành, trung bình ngành. Và hiệu quả hoạt động của công ty phải được đánh giá theo chuỗi thời gian.
Phân loại hiệu quả hoạt động công ty Hiệu quả hoạt động của công ty bao gồm: hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính. Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh được tạo thành bởi tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy hiệu quả kinh doanh của công ty được xem xét trên 2 mặt là hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh tổng hợp. Hiệu quả kinh doanh cá biệt: để xem xét, đánh giá một cách chính xác hiệu quả kinh doanh cá biệt, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện và nguồn lực với kết quả đạt được.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cá biệt của công ty bao gồm: hiệu suất sử dụng tài sản, hiệu suất sử dụng tài sản cố định, hiệu suất sử dụng vốn lưu động và hiệu suất sử dụng lao động của công ty. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh cá biệt của từng nguồn lực, ta cần phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp của công ty. Đó chính là khả năng sử dụng một cách tổng hợp các nguồn lực để tạo ra kết quả trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Để có cái nhìn tổng quan về hiệu quả kinh doanh tổng hợp, nhà phân tích phải dựa vào các chỉ tiêu phản Luan van 10 ánh khả năng sinh lời của công ty.
Đó là khả năng sinh lời từ các hoạt động của công ty và khả năng sinh lời của tài sản. Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, đó là thái độ gìn giữ và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu. Một công ty có hiệu quả tài chính cao thì công ty có nhiều điều kiện để tăng trưởng. Công ty muốn phát triển cần phải đầu tư và sự đầu tư đòi hỏi có nguồn vốn.
Vấn đề là các công ty nên gia tăng vốn chủ sở hữu hay huy động vốn vay. Việc huy động vốn vay sẽ dễ dàng hơn nếu công ty chứng tỏ được khả năng tạo ra lợi nhuận cao. Việc gia tăng vốn vay giúp công ty gia tăng khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu tuy nhiên công ty lại gặp phải áp lực trả lãi vay. Do vậy hiệu quả tài chính được các nhà quản trị công ty rất quan tâm.
CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty rất phức tạp. Do vậy, để đánh giá, phân tích hiệu quả hoạt động của công ty không thể sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá mà cần phải đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu để đo lường và đánh giá chính xác, khoa học. Hệ thống chỉ tiêu này phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: - Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải có các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp, phản ánh chung tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh doanh từng mặt, từng khâu. Các chỉ tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình sử dụng từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải bảo đảm tính hệ thống và toàn diện, tức là chỉ tiêu hiệu quả phải phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Luan van 11 - Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình trên cơ sở những nguyên tắc chung của hiệu quả, nghĩa là phản ánh được trình độ sử dụng nguồn lực thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí. Trong đó có các chỉ tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lường được thì mới có thể so sánh, tính toán được theo phương pháp tính toán cụ thể, thống nhất, các chỉ tiêu phải có phạm vi áp dụng nhất định phục vụ từng mục đích nhất định của công tác đánh giá. - Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo phản ánh được tính đặc thù của từng ngành kinh doanh khác nhau.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả kinh doanh được hình thành từ tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy khi xem xét hiệu quả kinh doanh của công ty bên cạnh xem xét một cách tổng hợp, cần phải nghiên cứu các yếu tố thành phần của nó đó là hiệu suất sử dụng tài sản, khả năng sinh lời từ doanh thu, khả năng sinh lời của tài sản. Các nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm: a. Hiệu suất sử dụng TS Hiệu suất sử dụng TS của công ty Hiệu suất sử dụng tài sản được thể hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả đạt được trên giá trị tài sản của công ty.
Kết quả đạt được có thể được biểu hiện bằng chỉ tiêu như: doanh thu và thu nhập hoạt động khác… Doanh thu bán Doanh thu Thu nhập hàng và cung + hoạt động + khác Hiệu suất sử cấp dịch vụ tài chính dụng tài sản toàn doanh = nghiệp Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản đầu tư tại công ty sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu và thu nhập. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu suất sử dụng tài sản càng cao. Khi tỷ số này thấp hơn so với bình quân ngành cho thấy rằng Luan van 12 bình quân một đồng tài sản của công ty tạo ra được ít doanh thu hơn so với bình quân ngành nói chung. Trong tương lai công ty nên chú ý cải thiện sao cho hiệu quả sử dụng tài sản được tốt hơn bằng cách nỗ lực gia tăng doanh thu hoặc bán bớt đi những tài sản ứ đọng không cần thiết.
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng ngành nghề, từng lĩnh vực kinh doanh, phụ thuộc vào trình độ, khả năng quản lý và cách thức tổ chức sản xuất của mỗi công ty. Hiệu suất sử dụng TS cố định của công ty Để tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi công ty phải trang bị, sử dụng tài sản cố định trong cơ cấu tài sản của mình. Tuy nhiên việc sử dụng hiệu quả tài sản cố định cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào trình độ quản lý và cách thức sử dụng nó. Ngoài ra hiệu suất sử dụng tài sản cố định còn phụ thuộc vào ngành nghề hoạt động của công ty.
Công thức tính hiệu suất sử dụng tài sản cố định như sau: Doanh thu thuần Hiệu suất sử = dụng TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá TSCĐ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Trị giá chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty càng cao và ngược lại. Tuy nhiên hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty còn phụ thuộc vào từng thời kỳ sử dụng TSCĐ của công ty. Cụ thể trong giai đoạn công ty mới đầu tư mua máy móc thiết bị thì hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty thường cao hơn so với các giai đoạn sử dụng sau, vì trong khoảng thời gian này máy móc thiết bị còn mới, khả năng hoạt động còn tốt, ít hư hỏng do đó sản phẩm tạo ra phù hợp với tiêu chuẩn sản xuất mà công ty đặt ra.
Điều đó tất yếu sẽ làm cho sản phẩm sản xuất của công ty đạt chất lượng tốt hơn, khả năng tiêu thụ dễ dàng hơn, do đó làm cho Luan van 13 hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty cao hơn. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của công ty Vốn lưu động là một bộ phận vốn, có tốc độ lưu chuyển nhanh so với TSCĐ. VLĐ sẽ lần lượt mang các hình thái khác nhau trong quá trình dự trữ, sản xuất, lưu thông phân phối. Hiệu suất sử dụng VLĐ của công ty được đánh giá thông qua chỉ tiêu thể hiện tốc độ luân chuyển vốn lưu động như: số vòng quay bình quân của VLĐ, số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay khoản phải thu.