CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tương tác thuốc 1. Định nghĩa tương tác thuốc Tương tác thuốc là một phản ứng giữa một thuốc với một tác nhân thứ hai (thuốc, thực phẩm, hoá chất khác). Phản ứng đó có thể xảy ra khi tiếp xúc với cơ thể hay hoàn toàn ở bên ngoài cơ thể khi bào chế, bảo quản, thử nghiệm hay chế biến các thuốc[2].
Tương tác thuốc là sự thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của thuốc khi sử dụng đồng thời với thuốc khác, dược liệu, thức ăn, đồ uống hoặc có thể là với một tác nhân hóa học khác [2].Tương tác thuốc có nhiều dạng khác nhau: tương tác thuốc - thuốc, tương tác thuốc - thức ăn, tương tác thuốc - dược liệu, tương tác thuốc - tình trạng bệnh lý, tương tác thuốc - xét nghiệm., phối hợp clarithromycin với simvastatin là TTT chống chỉ định do làm tăng nồng độ simvastatin trong máu dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh cơ và hội chứng tiêu cơ vân cấp. Khi số lượng thuốc được bệnh nhân sử dụng càng nhiều thì nguy cơ gặp phải tương tác thuốc càng cao. Tần suất gặp phải tương tác thuốc 3-5 % khi dùng vài thuốc và tới 20% khi dùng 10-20 thuốc đặc biệt nguy cơ này tăng lên 100% khi bệnh nhân dùng 20 thuốc trở lên.Tỷ lệ các phản ứng có hại (ADR) khi kết hợp nhiều loại thuốc sẽ tăng theo cấp số nhân. Một thống kê dịch tễ học cho thấy tỷ lệ ADR là 7% ở bệnh nhân dùng phối hợp 6-10 loại thuốc, nhưng tỷ lệ này sẽ là 40% khi dùng phối hợp 16- 20 loại.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu tập trung vào các tương tác thuốc - thuốc có ý nghĩa lâm sàng quan trọng trong công tác điều trị. Dịch tễ học tương tác thuốc Theo như các nghiên cứu hay báo cáo thì tỷ lệ tương tác thuốc thường rất khác nhau[2]. Nhiều yếu tố dẫn đến sự khác biệt như bối cảnh nghiên cứu ( nội trú, ngoại trú), phương pháp nghiên cứu( hồi cứu, tiến cứu), đối tượng nghiên cứu( bệnh nhân trẻ tuổi hay già tuổi hoặc bệnh nhân mắc các bệnh lý như tim mạch, huyết áp,.), công cụ phát hiện TTT( sách, phần mềm), thời gian đánh giá, tiêu chí thu thập thông tin( tất cả các tương tác thuốc, hay chỉ tương tác bất lợi hoặc tương tác nghiêm trọng). 3 Theo như các kết quả nghiên cứu thì tỷ lệ tương tác thuốc sẽ gặp nhiều hơn trong các đơn thuốc nội trú sẽ cao, mặc dù ngoại trú tỷ lệ tương tác thuốc cũng chiếm tỷ lệ tương đối.Tại thế giới, Nghiên cứu của Chatsisvili A và cộng sự tiến hành tại các nhà thuốc cộng đồng ở Hy Lạp cho thấy 18,5% đơn thuốc có tương tác, trong đó, tương tác mức độ ở mức độ nghiêm trọng chiếm 10,5% tổng số tương tác [13].Trong khi đó, nghiên cứu của Erdeljic V và cộng sự thực hiện trên bệnh nhân nội trú tại hai bệnh viện đại học ở Croatia lại cho thấy tỷ lệ gặp tương tác thuốc tiềm tàng lên đến 46%, phần lớn các tương tác ở mức độ trung bình và nghiêm trọng (56% tương tác ở mức độ trung bình, 33% tương tác ở mức độnghiêm trọng) [17].
Nghiên cứu tổng quan hệ thống của LM de Oliveira (2021) với sự tham gia của 9577 bệnh nhân. Tỷ lệ phổ biến của tương tác thuốc dao động từ 8,34% đến 100%. Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều nghiên cứu về tương tác thuốc để so sánh, đánh giá, xây dựng nên danh mục tương tác thuốc. Như nghiên cứu tương tác thuốc tại Bệnh viện Hữu nghị năm 2004, tỷ lệ xuất hiện tương tác thuốc nội trú là 50%[6].Bên cạnh đó, nghiên cứu Nguyễn Trọng Dự (2020) đã xây dựng được 27 cặp tương tác chống chỉ định trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện E Trung ương dựa trên sự đồng thuận của 3 cơ sở dữ liệu là MM, DIF và tờ hướng dẫn sử dụng, rà soát 7445 đơn thuốc tỷ lệ phát hiện tương tác thuốc là 4,15% [12].
Trong một nghiên cứu khác, khi rà soát hơn 1000 đơn ngoại trú, tỷ lệ đơn thuốc có tương thuốc là 16%, tương tác nghiêm trọng chiếm khoảng 2-3%. Đa số TTT gây ra hậu quả bất lợi. Ảnh hưởng của TTT trên bệnh nhân rất đa dạng, TTT có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện phản ứng có hại của thuốc (ADR) hoặc làm giảm hiệu quả điều trị. Những nghiên cứu trên góp phần cảnh báo bác sĩ cần lưu ý đến tương tác thuốc trong điều trị bởi không một nghiên cứu nào có thể đưa ra con số chính xác về tỷ lệ tương tác thuốc xuất hiện trong thực hành lâm sàng dù cho tỷ lệ xuất hiện tương tác có thấp, vẫn có một số bệnh nhân có nguy cơ gặp phải hậu quả (thậm chí còn nghiêm trọng), đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi thuốc được kê đơn và sử dụng mỗi ngày ngày càng nhiều.
Phân loại tương tác thuốc Có nhiều cách phân loại tương tác thuốc khác nhau: theo cơ chế, theo mức độ nghiêm trọng, theo đích tác dụng hoặc theo khuyến cáo quản lý lâm sàng. Dựa theo cơ chế, tương tác thuốc được phân thành hai nhóm, bao gồm tương tác dược dược động học và tương tác dược lực học [2],[5]. 4 * Tương tác dược lực học: Tương tác dược lực học gặp khi phối hợp các thuốc có cùng tác dụng dược lý hoặc tác dụng không mong muốn tương tự nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Đây là loại tương tác đặc hiệu, các thuốc có cùng cơ chế sẽ có cùng một kiểu tương tác dược lực học.
Tương tác dược lực học chiếm phần lớn các tương tác gặp phải trong điều trị. Tương tác dược lực học có thể do: Tương tác trên cùng receptor: thường dẫn đến hậu quả làm giảm hoặc mất tác dụng của thuốc dùng kèm, bao gồm đối kháng cạnh tranh và không cạnh tranh như Naloxon để giải độc morphin, các thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic để điều trị tăng huyết áp, loạn nhịp tim có thể làm mất tác dụng giãn phế quản của các thuốc điều trị hen nhóm kích thích thụ thể beta2-adrenergic Các tương tác xảy ra trên cùng một hệ thống sinh lý. Những tương tác xảy ra tại các receptor khác nhau nhưng có cùng đích tác dụng: làm tăng tác dụng (tương tác hiệp đồng) ví dự như phối hợp thuốc lợi tiểu với các thuốc chống tăng huyết áp để điều trị bệnh tăng huyết áp, phối hợp kháng sinh với các thuốc giảm tiết HCL để điều trị viêm loét dạ dày. Những tương tác do phối hợp thuốc có cùng kiểu độc tính (cộng độc tính).
Đây là kiểu tương tác bất lợi thường gặp do vô tình sử dụng các thuốc có tác dụng điều trị khác nhau nhưng lại có độc tính trên cùng một cơ quan ví dụ như phối hợp Amikacin với Furosemide làm tăng độc tính trên thận và tai dẫn đến tăng nguy cơ suy thận và điếc, các thuốc corticoid với các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) làm tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa. * Tương tác dược động học: Tương tác dược động học là những tương tác làm thay đổi một hay nhiều thông số cơ bản của quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc. Hậu quả của tương tác dược động học là sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tương, dẫn đến thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính [2],[5]. Đây là loại tương tác xảy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước, không liênquan đến cơ chế tác dụng của thuốc.
Tương tác dược động học của thuốc được trình bày qua sơ đồ sau : 5 Hình 1. Sơ đồ tương tác dược động học của thuốc Tương tác dược động học có thể do: + Thay đổi hấp thu tại vị trí đưa thuốc. + Thay đổi phân bố của thuốc trong cơ thể. + Thay đổi chuyển hóa thuốc tại gan.
+ Thay đổi bài xuất thuốc qua thận. * Thay đổi hấp thu tại vị trí đưa thuốc - Do thay đổi pH dạ dày, ví dụ Ketoconazol giảm hấp thu khi pH dạ dày tăng (do PPI, do kháng histamin, do antacid). - Do thay đổi nhu động đường tiêu hóa, về mặt nguyên tắc một thuốc được tống nhanh ra khỏi dạ dày sẽ có lợi cho việc hấp thu vì ruột là vị trí hấp thu tối ưu đối với thuốc, ngược lại nếu một thuốc bị tống nhanh ra khỏi ruột sẽ bị giảm hấp thu. - Do tạo phức khó hấp thu/ cản trở hấp thu ví dụ Antacid là giảm hấp thu của ciprofloxacin.
* Thay đổi phân bố thu - Đẩy nhau khỏi liên kết protein huyết tương. Tương tác loại này chỉ xảy ra với các thuốc có tỷ lệ liên kết với protein cao (trên 80%) như cặp tương tác giữa Methotrexat – NSAID - Thay đổi tỷ lệ nước dịch ngoại bào của cơ thể 6 * Thay đổi chuyển hóa thuốc: - Cảm ứng enzym - Ức chế enzym * Thay đổi bài xuất thuốc qua thận - Thay đổi pH nước tiểu - Cạnh tranh chất mang 1. Các yếu tố liên quan tới tương tác thuốc: * Yếu tố liên quan đến thuốc - Phối hợp nhiều thuốc: nguy cơ gặp tương tác tăng lên theo số thuốc sử dụng cho người bệnh [35], [55], [61]. Guthrie và cộng sự nghiên cứu trên quần thể 311.811 người bệnh ngoại trú năm 2010 đã chỉ ra tỷ lệ gặp tương tác thuốc tiềm tàng khi dùng 5-9 thuốc là 40%, tỷ lệ này tăng lên 60% khi dùng 10-14 loại thuốc và tới 81% ở bệnh nhân được kẻ từ 15 thuốc trở lên [47].
- Sử dụng thuốc có khoảng điều trị hẹp: các thuốc có khoảng trị liệu hẹp có sự khác biệt rất ít giữa liều điều trị và liều gây ra độc tính nên khi xảy ra tương tác với các thuốc này nguy cơ gặp phản ứng có hại trên lâm sàng cao hơn các thuốc khác. Các thuốc có khoảng điều trị hẹp thường được kể đến bao gồm: + Kháng sinh aminoglycosid: gentamicin, tobramycin + Thuốc chống động: warfarin, heparin + Thuốc điều trị động kinh: carbamazepin, phenytoin, acid valproic + Thuốc chống trầm cảm: lithi, các thuốc chống trầm cảm ba vòng + Thuốc khác: digoxin, quinidin, procainamid, cyclosporin, theophylin, levothyroxin, tacrolimus, methotrexat [56]. * Yếu tố thuộc về bệnh nhân - Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng càng tăng thì càng có nguy cơ cao gặp tương tác thuốc. Yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định tốc độ của enzym trong quá trình chuyển hóa thuốc, trong đó hệ thống enzyme chuyển hóa thuốc quan trọng nhất là cytocrom P450.
Bệnh nhân có enzyme chuyển hóa thuốc chậm thường có ít nguy cơ 7 gặp tương tác thuốc hơn bệnh nhân có enzyme chuyển hóa thuốc nhanh [67].