Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Trong chương này, để có cái nhìn tổng quan về những công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên về văn bản hành chính; tình hình nghiên cứu ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn và tình hình nghiên cứu diễn ngôn văn bản hành chính. Bên cạnh đó, để có khung lí thuyết làm cơ sở thực hiện khảo sát, phân tích ở những chương tiếp theo, chúng tôi tìm hiểu về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn; văn bản hành chính và diễn ngôn văn bản hành chính. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về văn bản hành chính 1.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Văn bản hành chính có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước của tất cả các quốc gia. Nó chứa đựng những quyết định và thông tin quản lí do các cơ quan quản lí nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nghiên cứu văn bản hành chính nói chung, ngôn ngữ trong văn bản hành chính nói riêng từ lâu đã được các nhà nghiên cứu liên ngành và các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung phục vụ cho các mục đích ứng dụng vào việc xây dựng và ban hành văn bản hành chính, giảng dạy, dịch thuật…Các nhà nghiên cứu về văn bản hành chính phải kể đến như: Mellinkoff (1963), Prederick Schauder (1982), Bhatia (1987, 1993), Peter Tiersma (1999).
Mellinkoff (1963) là một trong những nhà khoa học đi tiên phong trong nghiên cứu ngôn ngữ văn bản quản lí hành chính nhà nước. Trong cuốn Ngôn ngữ của luật pháp (The Language of the Law) [110], Mellinkoff cho rằng, nghiên cứu văn bản quản lí hành chính nhà nước không thể bỏ qua nghiên cứu ngôn ngữ sử dụng trong đó. Cụ thể là cần tập trung phát hiện ra những đặc điểm 9 đặc trưng của ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản quản lí hành chính nhà nước; đồng thời chỉ ra sự khác biệt của việc sử dụng ngôn ngữ trong thể loại văn bản này so với các thể loại văn bản khác. Theo tác giả, điểm nổi bật trong văn bản quản lí hành chính nhà nước là việc sử dụng nhiều phép lặp từ vựng nhằm đảm bảo tính chính xác của văn bản.
Samuel I Feigin (1979) trong bộ sách Văn bản pháp lí và hành chính của Triều đại Samsu-iluna (Legal and Administrative Texts of the Reign of Samsu- iluna) [116], đã sưu tập nhiều nhóm văn bản lớn chia sẻ về một niên đại. Công trình được thiết kế để trình bày các nhóm văn bản trong thời trị vì của Samsu- iluna, vua của Babylon (khoảng 1749-1712 TCN). Postgate, Matḥaf al-ʻIrāqī (1996) trong cuốn Văn bản pháp lí và hành chính thiên niên kỷ thứ ba tại Bảo tàng Iraq, Baghdad (Third-millennium Legal and Administrative Texts in the Iraq Museum, Baghdad) [115], đã trình bày các văn bản pháp lí và hành chính trong Bảo tàng Iraq tại Baghdad có niên đại từ thời Fara, tiền Sargonic và Sargonic, xuất phát từ các cuộc khai quật bất hợp pháp. Trong công trình này, hơn 70 bản sao văn bản được trình bày cộng với phần giới thiệu của nhóm tác giả trước phần chuyển ngữ và dịch các văn bản.
Peter Tiersma (1999), trong Bản chất của ngôn ngữ pháp lí (The nature of legal language) [114], đã chỉ ra ngôn ngữ quản lí hành chính nhà nước là sản phẩm của lịch sử đất nước, của chính quyền và của toàn bộ sự phát triển hệ thống văn bản. Khi đề cập đến ngôn ngữ trong văn bản quản lí hành chính của nước Anh, Peter Tiersma cho rằng, xuất phát từ nguyên nhân lịch sử nên ngôn ngữ văn bản quản lí hành chính của Anh chịu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ La tinh và ngôn ngữ Pháp (ngôn ngữ của những người Saxony và Scandinavia xâm lược mang đến). Chính điều này khiến ngôn ngữ trong văn bản quản lí hành chính nhà nước của Anh mang những đặc điểm riêng so với hệ thống ngôn ngữ đang hiện hành về phương diện ngữ âm, từ vựng… đặc biệt là về cấu trúc 10 câu có sự nổi trội của một số mẫu câu như câu bị động, câu chứa nhiều mệnh đề con. Paul-Alain Beaulieu (2000) trong tập Văn bản pháp lí và hành chính từ Triều đại Nabonidus (Legal and Administrative Texts from the Reign of Nabonidus) [113], đã cung cấp bản sao của những tài liệu bằng đất sét được lưu giữ trong Bộ sưu tập Yale Babylon.
Những tài liệu bằng đất sét này chủ yếu là các văn bản hành chính và các hợp đồng giao dịch pháp lí, cùng với một số chữ cái. Trong tập sách này, tác giả cũng cung cấp phần giới thiệu về tập tài liệu, sổ đăng ký và danh mục mô tả của các văn bản; các mục lục về tên cá nhân, tên địa lí và tên của các vị thần đền thờ xuất hiện trong các văn bản. Alcaraz Varo (2002) trong công trình nghiên cứu Dịch thuật pháp luật (Legal translation) [97], đã quan tâm đến những vấn đề còn bỏ ngỏ trong dịch thuật ngôn ngữ văn bản pháp lí và những chủ đề gây tranh luận khi chuyển ngữ giữa các hệ thống văn bản pháp lí khác nhau. Mattila (2006) trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học pháp lí so sánh (Comparative legal linguistics) [111], đã đề cập đến chức năng và đặc điểm của ngôn ngữ văn bản quản lí hành chính nhà nước; nghiên cứu nội hàm của các khái niệm liên quan; đồng thời nghiên cứu những vấn đề trong dịch thuật ngôn ngữ văn bản quản lí hành chính nhà nước.
Alenka Kocbek (2008) trong bài viết “Khung văn hóa của các văn bản pháp lí” (The Cultural Embeddedness of Legal Texts) [109], đã đề cập đến vai trò của khung văn hóa trong hoạt động dịch thuật ngôn ngữ văn bản pháp lí từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, trong bối cảnh tiếng Anh được coi là ngôn ngữ được sử dụng chung trên toàn thế giới. Tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp cho sự không tương ứng về các khái niệm và thuật ngữ quản lí nhà nước trong các ngôn ngữ nhằm đề xuất những thuật ngữ mới và giúp nâng cao hiểu biết về văn bản quản lí hành chính nhà nước của ngôn ngữ đích. Miller (2013) trong công trình Hướng dẫn của Hoàng gia Hittite và các văn bản hành chính liên quan (Royal Hittite Instructions and Related 11 Administrative Texts) [108], đã cho người đọc hiện đại thấy rằng, những văn bản hành chính có liên quan trong Hướng dẫn của Hoàng gia Hittite được coi là giáo huấn. Người Hittite đã phân loại chúng cùng với các hiệp ước nhà nước, hiểu chúng là hợp đồng hoặc nghĩa vụ, bao gồm các chỉ thị của nhà vua đối với các linh mục, nhân viên đền thờ, thị trưởng, sĩ quan quân đội, biên giới; những người chỉ huy đồn trú, và những người hầu trong cung điện.
Ngôn ngữ văn bản hành chính thường có hiện tượng dùng lặp đi lặp lại những từ, những câu, những cấu trúc có sẵn, cái gọi là tính khuôn mẫu. Đặc điểm của loại văn bản này là yêu cầu phải thực hiện, bắt buộc thi hành những nội dung đã được văn bản thể hiện. Văn bản hành chính không cho phép thể hiện tính cá nhân mà nó mang tính tập thể, nhân danh tập thể. Vì vậy, trong các công trình nghiên cứu về văn bản hành chính, các tác giả thường quan tâm và đề cập đến vấn đề này.
Tình hình hình nghiên cứu ở trong nước a) Tình hình nghiên cứ u văn bản hà nh chính từ góc độ phong cá ch hoc ̣ Các nhà phong cách học đã nghiên cứu đăc trưng và đăc điể m sử dung phương tiên ngôn ngữ của các phong cách chứ c năng, trong đó có phong cách ngôn ngữ hành chính. Trong các công trình của Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982); Hữu Đạt (2000); Cù Đình Tú (2007); Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2013), các tác giả đều đưa ra khái niệm, chức năng, đặc trưng của phong cách hành chính - công vụ và phân loại văn bản hành chính - công vụ. Các nhà phong cách học đều cho rằng, phong cách ngôn ngữ hành chính - công vụ có tính chính xác, mạch lạc, tính nghiêm túc khách quan và tính khuôn mẫu. Ngôn ngữ trong văn bản hành chính mang tính lí trí, không biểu cảm… Nhó m tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982) trong Phong cách học tiếng Việt [8] khi bàn về phong cách hành chính - công vụ cho rằng, ngôn ngữ hành chính - công vụ thực hiện chức năng thông báo và làm nhiệm vụ giao dịch giữa nhân dân với cơ quan nhà nước, giữa cơ 12 quan nhà nước với nhân dân, giữa cơ quan này với cơ quan khác, giữa nước này với nước khác.
Nhóm tác giả này đã chỉ ra bốn đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hành chính là tính khuôn mẫu, tính có hiệu lực, tính ngắn gọn và tính chính xác. Hữu Đạt (2011) trong Phong cá ch hoc ̣ tiế ng Viêt ̣ hiêṇ đa [22], đã đề cập ị đến cơ sở phân chia các phong cách chức năng và hoạt động của các phong cách trong tiếng Việt. Về hoạt động của phong cách hành chính - công vụ, tác giả đã trình bày khái niệm, những đặc điểm cơ bản của phong cách hành chính - công vụ gồm đặc điểm về quan hệ của người tham gia giao tiếp; đặc điểm về hoạt động và tính khuôn mẫu của ngôn ngữ trong phong cách hành chính - công vụ; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; tính trang trọng và quốc tế; đặc điểm về cách nói tắt, viết tắt; tính quy ước và tính khả biến theo thời gian; đặc điểm về việc sử dụng từ ngữ. Đồng thời, tác giả cũng trình bày các dạng tồn tại của văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ; cấu trúc của văn bản hành chính.
Trong Phong cách học tiếng Việt [46], Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (2013) đã bàn khá cụ thể về phong cách hành chính - công vụ. Theo đó, nhó m tác giả đã đưa ra định nghĩa về phong cách hành chính - công vụ; trình bày chức năng của ngôn ngữ trong phong cách hành chính - công vụ và đặc trưng chung của phong cách này gồm tính chính xác - minh bạch, tính nghiêm túc - khách quan, tính khuôn mẫu. Đồng thời, các tác giả này cũng đã chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính - công vụ, gồm đặc điểm về từ ngữ, về cú pháp, về cách trình bày văn bản.