Tổng quan luận án
Văn bản hành chính đóng vai trò thiết yếu trong việc thiết lập các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, là công cụ truyền tải ý chí quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, theo tác giả Trương Thị Thủy trình bày trong luận án tiến sĩ ngành Ngôn ngữ học tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế (2023), phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây về văn bản hành chính chủ yếu tập trung vào các vấn đề lý luận chung của hành chính học, hoặc tiếp cận dưới góc độ phong cách học với các đặc điểm ngôn ngữ lồng ghép trong thể thức và kỹ thuật trình bày. Bên cạnh đó, các nghiên cứu ngôn ngữ học về văn bản quản lý nhà nước thường tập trung vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Trung ương. Thực tế cho thấy, một bộ phận công chức văn phòng cấp địa phương vẫn còn hạn chế về mặt ngôn ngữ trong quá trình soạn thảo, dẫn đến việc diễn đạt chưa đạt chuẩn mực, thiếu sự chuẩn xác hoặc rườm rà. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc khảo sát, phân tích ngôn ngữ văn bản hành chính thông thường cấp địa phương dưới góc nhìn của lý thuyết phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học chức năng hệ thống vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Làm sáng tỏ đặc trưng diễn ngôn văn bản hành chính từ quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday.
- Góp phần tạo lập nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và thực hành soạn thảo văn bản hành chính.
Để đạt được mục đích trên, tác giả đề ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, văn bản hành chính và ngôn ngữ văn bản hành chính.
- Nghiên cứu tổng quan các công trình trong và ngoài nước làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài.
- Tiến hành khảo sát, phân tích nguồn ngữ liệu thực tế trên ba phương diện siêu chức năng: chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng tạo văn bản của diễn ngôn văn bản hành chính cấp địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác lập rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ văn bản hành chính cấp địa phương tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Các văn bản được ban hành trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018.
- Phạm vi loại hình văn bản: 6 loại văn bản hành chính thông thường gắn với công tác nghiệp vụ cơ bản tại Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, bao gồm: quyết định, công văn, kế hoạch, báo cáo, thông báo, tờ trình.
- Phạm vi nội dung tiếp cận: Ứng dụng mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống để phân tích chức năng kinh nghiệm (hệ thống chuyển tác qua các kiểu quá trình, hiện tượng danh hóa), chức năng liên nhân (hệ thống từ ngữ xưng hô, các hành vi ngôn ngữ biểu hiện lực ngôn trung) và chức năng tạo văn bản (cấu trúc diễn ngôn, cấu trúc Đề - Thuyết, tính liên kết và mạch lạc).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến văn bản hành chính và phân tích diễn ngôn qua các hướng tiếp cận chính:
Hướng nghiên cứu văn bản hành chính ở nước ngoài
Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính và pháp luật của các học giả quốc tế:
- Mellinkoff (1963) trong công trình The Language of the Law nhấn mạnh việc nghiên cứu ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước cần chỉ ra các nét đặc trưng riêng biệt, trong đó nổi bật là phép lặp từ vựng nhằm bảo đảm tính chính xác.
- Samuel I. Feigin (1979) với bộ sách Legal and Administrative Texts of the Reign of Samsu-iluna sưu tập và phân tích hệ thống văn bản hành chính, pháp lý triều đại vua Samsu-iluna (Babylon).
- Postgate và Matḥaf al-ʻIrāqī (1996) trong Third-millennium Legal and Administrative Texts in the Iraq Museum, Baghdad công bố hơn 70 bản sao văn bản pháp lý và hành chính thiên niên kỷ thứ ba.
- Peter Tiersma (1999) trong The nature of legal language khẳng định ngôn ngữ quản lý nhà nước chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử, sự phát triển của chính quyền; chỉ ra ảnh hưởng của tiếng La-tinh và tiếng Pháp lên ngôn ngữ hành chính Anh, dẫn đến sự xuất hiện phổ biến của các mẫu câu bị động và câu nhiều mệnh đề con.
- Paul-Alain Beaulieu (2000) trong Legal and Administrative Texts from the Reign of Nabonidus khảo sát các văn bản hành chính và hợp đồng giao dịch bằng đất sét.
- Alcaraz Varo (2002) với Legal translation nghiên cứu vấn đề dịch thuật ngôn ngữ pháp lý và sự chuyển ngữ giữa các hệ thống văn bản.
- Mattila (2006) trong Comparative legal linguistics phân tích chức năng, đặc điểm và vấn đề dịch thuật ngôn ngữ quản lý nhà nước.
- Alenka Kocbek (2008) với The Cultural Embeddedness of Legal Texts bàn về vai trò của khung văn hóa trong dịch thuật văn bản pháp lý.
- Miller (2013) trong Royal Hittite Instructions and Related Administrative Texts khảo sát các văn bản hành chính và chỉ thị của hoàng gia Hittite.
Hướng nghiên cứu văn bản hành chính trong nước
- Từ góc độ phong cách học: Các công trình của Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982); Hữu Đạt (2000, 2011); Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2013); Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2009); Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (2013); Giáo trình của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2020). Các tác giả xác lập các đặc trưng cơ bản của phong cách hành chính - công vụ gồm: tính chính xác - minh bạch, tính nghiêm túc - khách quan, tính khuôn mẫu và tính hiệu lực; phân tích chức năng giao tiếp lý trí và chức năng ý chí (sai khiến).
- Từ góc độ hành chính học và kỹ thuật soạn thảo: Nguyễn Văn Thâm (2010), Lưu Kiếm Thanh (2010), Vương Đình Quyền (2011), Nguyễn Minh Phương (2011), Triệu Văn Cường cùng các cộng sự (2013), Ngô Sỹ Trung (2015). Các tài liệu này tập trung vào quy trình, thể thức, văn phong, quy định dùng từ ngữ, xưng hô và chuẩn hóa văn bản hành chính công vụ.
- Từ góc độ dụng học và hành động ngôn từ: Vũ Ngọc Hoa (2012) khảo sát hành động ngôn từ cầu khiến; Đỗ Thanh Nga (2016) nghiên cứu ngôn ngữ hành chính từ góc độ dụng học, phân tích 5 phạm trù hành vi ngôn ngữ (cầu khiến, tái hiện, cam kết, tuyên bố, biểu cảm) và khẳng định hành vi điều khiển cùng hành vi tái hiện chiếm tỷ lệ áp đảo.
Hướng nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn
- Ứng dụng phân tích diễn ngôn trong các thể loại tiếng Việt: Vũ Văn Lăng (2013) nghiên cứu tác phẩm văn học Nam Cao; Đỗ Thị Xuân Dung (2015) đối chiếu diễn ngôn khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt theo đường hướng CDA; Trần Bình Tuyên (2017) khảo sát văn chính luận Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh qua khung lý thuyết SFG; các nghiên cứu của Nguyễn Hòa (2002, 2003, 2005, 2006), Diệp Quang Ban (2002, 2006, 2009, 2012), Nguyễn Văn Thành (2009).
- Vận dụng phân tích diễn ngôn vào văn bản pháp luật, hành chính: Lê Hùng Tiến (1999) khảo sát văn bản luật pháp tiếng Việt; Nguyễn Thị Hường (2010) nghiên cứu biểu hiện mạch lạc trong báo cáo, tờ trình; Nguyễn Thị Hà (2010) khảo sát chức năng ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật Trung ương; Trần Thị Thùy Linh (2016) nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng; Nguyễn Thị Ly Na (2019) phân tích ngôn ngữ pháp luật trong các bản Hiến pháp; Phan Thị Thu Thủy (2020) nghiên cứu văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp Trung ương (Nghị định, Thông tư) từ quan hệ liên nhân và chức năng tác động.
Vị trí và khoảng trống của luận án
Qua việc điểm luận các công trình, luận án xác định vị trí nghiên cứu của mình: trong khi các công trình đi trước chủ yếu tập trung vào văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính cấp Trung ương, luận án của Trương Thị Thủy là công trình chuyên biệt khảo sát ngôn ngữ văn bản hành chính thông thường do chính quyền địa phương (UBND các cấp tại Quảng Nam và Đà Nẵng) ban hành dưới khung lý thuyết phân tích diễn ngôn chức năng hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Khái niệm diễn ngôn và phân tích diễn ngôn: Luận án tiếp thu quan điểm của David Nunan (1993), Halliday và Hasan (1976), Widdowson (1984), Brown và Yule (1983), Diệp Quang Ban (2012) và đồng thuận với định nghĩa của Nguyễn Hòa (2003): Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất, có mục đích, được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Phân tích diễn ngôn là việc nghiên cứu ngôn ngữ đang hành chức trong ngữ cảnh văn hóa - xã hội.
- Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG): Dựa trên lý thuyết của M.A.K. Halliday và sự tiếp thu, phát triển của Hoàng Văn Vân (2002), luận án ứng dụng mô hình ba siêu chức năng ngôn ngữ:
- Chức năng kinh nghiệm (Experiential Function): Biểu đạt kinh nghiệm của con người về thế giới thông qua hệ thống chuyển tác (Transitivity), gồm 6 kiểu quá trình: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình phát ngôn, quá trình hiện hữu, quá trình hành vi; kết hợp phân tích hiện tượng danh hóa như một dạng ẩn dụ ngữ pháp.
- Chức năng liên nhân (Interpersonal Function): Thiết lập và duy trì mối quan hệ giao tiếp, phản ánh khoảng cách xã hội, vị thế và quyền lực; được xem xét qua hệ thống từ ngữ xưng hô và lực ngôn trung của các hành vi ngôn ngữ.
- Chức năng tạo văn bản (Textual Function): Tổ chức thông điệp thành văn bản mạch lạc thông qua cấu trúc diễn ngôn, cấu trúc Đề - Thuyết (Topical Theme đánh dấu và không đánh dấu), cùng các phương thức liên kết và mạch lạc.
- Khái niệm và đặc trưng văn bản hành chính: Kế thừa các quy định tại Nghị định số 09/2010/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP của Chính phủ và các tài liệu hành chính học, tác giả định nghĩa: Văn bản hành chính là văn bản hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của các cơ quan, tổ chức; được dùng để quy định, quyết định, phản ánh, thông báo tình hình, trao đổi công việc và xử lý các vấn đề cụ thể khác của hoạt động quản lý. Diễn ngôn văn bản hành chính mang 5 đặc trưng cơ bản: tính chính xác, mạch lạc; tính khuôn mẫu; tính nghiêm túc, trang trọng, lịch sự; tính khách quan; tính phổ thông, đại chúng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp miêu tả làm chủ đạo, được triển khai qua các thủ pháp kỹ thuật:
- Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: Sử dụng khung lý thuyết SFG để phân tích ngữ liệu văn bản hành chính trong bối cảnh hành chính nhà nước địa phương nhằm làm rõ 3 siêu chức năng.
- Thủ pháp phân loại, thống kê và hệ thống hóa: Thu thập dữ liệu, xác định tần số xuất hiện và tính tỷ lệ phần trăm của các kiểu quá trình, từ ngữ xưng hô, hành vi ngôn ngữ, cấu trúc Đề - Thuyết, các liên từ và phương tiện liên kết; hệ thống hóa thành các bảng số liệu để rút ra nhận xét định lượng và định tính.
Nguồn ngữ liệu khảo sát
- Tổng số lượng: 288 văn bản hành chính thông thường.
- Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân các cấp (cấp xã/phường/thị trấn; cấp huyện/quận/thị xã; cấp tỉnh/thành phố) trực thuộc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
- Thời gian ban hành: Từ năm 2016 đến năm 2018.
- Cơ cấu mẫu: Khảo sát ngẫu nhiên 6 loại văn bản phổ biến, mỗi loại 48 văn bản:
- Quyết định (48 văn bản)
- Công văn (48 văn bản)
- Kế hoạch (48 văn bản)
- Báo cáo (48 văn bản)
- Thông báo (48 văn bản)
- Tờ trình (48 văn bản)
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu văn bản hành chính trong và ngoài nước, lịch sử phát triển của phân tích diễn ngôn và sự ứng dụng của lý thuyết này trong Việt ngữ học. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng như diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, văn bản hành chính, diễn ngôn văn bản hành chính; đồng thời phân loại hệ thống văn bản hành chính (so sánh giữa Nghị định 09/2010/NĐ-CP với 32 loại và Nghị định 30/2020/NĐ-CP với 29 loại). Chương này thiết lập cơ sở lý thuyết về ba siêu chức năng của Halliday (kinh nghiệm, liên nhân, tạo văn bản) và xác định 5 đặc trưng cơ bản của diễn ngôn hành chính (chính xác - mạch lạc, khuôn mẫu, nghiêm túc - trang trọng - lịch sự, khách quan, phổ thông - đại chúng) làm tiền đề cho việc phân tích ngữ liệu thực tế.
Chương 2: Chức năng kinh nghiệm của diễn ngôn văn bản hành chính
Chương 2 vận dụng mô hình chuyển tác của Halliday và các nghiên cứu của Hoàng Văn Vân để khảo sát phương thức thể hiện tư tưởng quản lý nhà nước qua các kiểu quá trình và hiện tượng danh hóa. Kết quả thống kê 1.478 quá trình chuyển tác trong 288 văn bản hành chính được trình bày tại Bảng 2.1:
| TT |
Kiểu quá trình |
Số lượng |
Tỉ lệ % |
| 1 |
Phát ngôn |
685 |
46,3 |
| 2 |
Vật chất |
584 |
39,5 |
| 3 |
Quan hệ |
83 |
5,6 |
| 4 |
Hành vi |
58 |
3,9 |
| 5 |
Tinh thần |
48 |
3,3 |
| 6 |
Hiện hữu |
20 |
1,4 |
| Tổng |
|
1478 |
100 |
Phân tích chi tiết cho thấy:
- Quá trình phát ngôn (46,3%): Chiếm tỷ lệ cao nhất do văn bản hành chính là phương tiện truyền đạt thông tin, quyết định và mệnh lệnh quản lý. Cấu trúc đầy đủ của quá trình phát ngôn gồm: Phát ngôn thể + Tham tố mở rộng + Vị tố phát ngôn + Tiếp ngôn thể + Ngôn thể + Đích ngôn thể + Chu cảnh (trong đó Vị tố phát ngôn và Ngôn thể là hai thành tố bắt buộc). Các động từ chỉ quá trình phát ngôn thường xuất hiện trong thế đồng định vị với chu cảnh chỉ vấn đề (ví dụ: thông báo, báo cáo, đề nghị, yêu cầu).
- Quá trình vật chất (39,5%): Chiếm tỷ lệ lớn thứ hai, thể hiện các hành động thực thi, triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách quản lý trên thực tế.
- Các quá trình quan hệ, hành vi, tinh thần và hiện hữu: Chiếm tỷ lệ thấp (từ 1,4% đến 5,6%), phản ánh tính chất khách quan, hạn chế tối đa các biểu đạt trạng thái tâm lý, cảm xúc cá nhân.
- Hiện tượng danh hóa: Được tác giả khảo sát như một cơ chế ẩn dụ ngữ pháp hiệu quả (với các từ định danh như việc, sự), cho phép nén lượng thông tin lớn vào thành phần tham tố của quá trình, duy trì cấu trúc cú pháp gọn gàng, đảm bảo nguyên tắc chính xác, súc tích và dễ tiếp nhận.
Chương 3: Chức năng liên nhân của diễn ngôn văn bản hành chính
Chương 3 đi sâu nghiên cứu tính tương tác, không khí giao tiếp và quan hệ quyền lực trong bộ máy hành chính qua hai phương diện:
- Từ ngữ xưng hô: Phản ánh vai giao tiếp, vị thế hành chính và khoảng cách xã hội giữa người phát ngôn (cơ quan ban hành) và người tiếp nhận. Văn bản hành chính cấp địa phương không sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít hay từ ngữ xưng hô mang tính thân tộc, mà triệt để sử dụng tên gọi cơ quan, tổ chức, chức danh, chức vụ chính thức (như UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, các sở, ban, ngành, cán bộ, công chức, nhân dân), đảm bảo tính đại diện quyền lực nhà nước và tính khách quan, phi cá nhân.
- Lực ngôn trung qua các hành vi ngôn ngữ: Khảo sát hệ thống động từ ngữ vi và các biểu thức ngôn hành thực hiện các nhóm hành vi:
- Hành vi cầu khiến: Thực hiện chức năng chỉ đạo, mệnh lệnh, yêu cầu cấp dưới hoặc các đơn vị trực thuộc thi hành nhiệm vụ.
- Hành vi báo cáo: Thực hiện truyền đạt thông tin phản ánh tình hình công tác lên cơ quan cấp trên.
- Hành vi chấp thuận: Thể hiện sự phê chuẩn, cho phép, đồng ý đối với các đề xuất, tờ trình.
Các hành vi ngôn ngữ này phản ánh trật tự thứ bậc hành chính và khuôn mẫu pháp lý chặt chẽ trong giao tiếp công vụ.
Chương 4: Chức năng tạo văn bản của diễn ngôn văn bản hành chính
Chương 4 khảo sát cách thức tổ chức văn bản thành một chỉnh thể thông điệp mạch lạc qua ba nội dung:
- Cấu trúc diễn ngôn: Luận án phân biệt hai mô hình bố cục nội dung:
- Bố cục mang tính quy định, quyết định: Điển hình ở văn bản Quyết định, cấu trúc chặt chẽ gồm phần căn cứ pháp lý, điều khoản thi hành cụ thể mang tính chế tài và quy định trách nhiệm rõ ràng.
- Bố cục không mang tính quy định: Thể hiện trong công văn, thông báo, tờ trình, kế hoạch, báo cáo, có tính linh hoạt hơn tùy theo mục đích trao đổi thông tin, phản ánh tình hình hay đề xuất công việc.
- Cấu trúc Đề - Thuyết:
- Đề chủ đề đánh dấu (Đề ngữ không trùng khớp với chủ ngữ): Khảo sát Đề đánh dấu chỉ thời gian và Đề đánh dấu chỉ quá trình, hoàn cảnh, có chức năng thiết lập bối cảnh không - thời gian và căn cứ hành chính cho thông điệp.
- Đề chủ đề không đánh dấu (Đề ngữ trùng khớp với chủ ngữ): Khảo sát Đề ngữ là tên cơ quan, tổ chức cụ thể xác định hoặc danh từ/ngữ danh từ bất định nhằm nêu rõ chủ thể thực hiện hành động.
- Liên kết và mạch lạc:
- Phương thức liên kết: Khảo sát liên hợp (sử dụng liên từ như và, với), phép lặp từ vựng (chiếm ưu thế tuyệt đối nhằm tránh đa nghĩa và đảm bảo tính chính xác pháp lý) và phép tỉnh lược (rút gọn các thành phần lặp lại trong câu phức).
- Mạch lạc nội dung: Phân tích biểu hiện của mạch lạc thông qua các mối quan hệ ngữ nghĩa nội tại, tập trung vào quan hệ nhân quả và quan hệ lập luận giữa các phần, các đoạn trong văn bản.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp về mặt lý luận
- Góp phần làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hành chính thông thường cấp địa phương dưới góc nhìn của lý thuyết phân tích diễn ngôn và ngữ pháp chức năng hệ thống (SFG).
- Luận án xây dựng một quy trình và phương pháp phân tích có hệ thống, tường minh đối với loại hình diễn ngôn hành chính nhà nước cấp địa phương thông qua việc tích hợp đồng thời ba siêu chức năng: kinh nghiệm, liên nhân và tạo văn bản.
- Cung cấp dẫn chứng thực nghiệm từ tiếng Việt về việc phân loại, nhận diện các kiểu quá trình chuyển tác, hiện tượng danh hóa, cấu trúc Đề - Thuyết và cơ chế liên kết trong phong cách hành chính - công vụ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn ngữ liệu và kết quả thống kê xác thực làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu chuyên sâu về Việt ngữ học và ngôn ngữ học ứng dụng.
- Đóng vai trò làm tài liệu đối sánh, phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình các học phần Tiếng Việt thực hành, Phong cách học tiếng Việt, Kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý nhà nước tại các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo cán bộ, công chức.
- Đưa ra các gợi ý khoa học giúp người làm công tác văn phòng, soạn thảo văn bản tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp địa phương nhận diện các đặc trưng ngôn ngữ chuẩn mực, nâng cao kỹ năng hành văn, khắc phục các lỗi diễn đạt, góp phần chuẩn hóa văn bản hành chính và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về điều kiện thời gian, địa bàn và phạm vi tiếp cận, luận án chỉ tập trung khảo sát 288 văn bản hành chính thông thường thuộc 6 loại hình (quyết định, công văn, kế hoạch, báo cáo, thông báo, tờ trình) được ban hành bởi UBND các cấp tại hai địa phương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trong khung thời gian từ năm 2016 đến năm 2018. Luận án chưa bao quát toàn bộ 29 loại văn bản hành chính theo quy định hiện hành cũng như chưa khảo sát mở rộng sang các cơ quan đảng, đoàn thể hoặc các vùng địa lý khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các loại văn bản hành chính khác (như chỉ thị, biên bản, quy chế, đề án); tiến hành nghiên cứu đối sánh diễn ngôn hành chính giữa các cấp chính quyền khác nhau (Trung ương và địa phương), hoặc đối sánh diễn ngôn văn bản hành chính giữa các vùng miền và giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận áp dụng ngữ pháp chức năng hệ thống (SFG) của Halliday vào phân tích một thể loại diễn ngôn cụ thể trong tiếng Việt; phần đáng chú ý là khung phân tích hệ thống chuyển tác (Chương 2) và cấu trúc Đề - Thuyết, liên kết mạch lạc (Chương 4).
- Cán bộ, giảng viên giảng dạy ngành Quản lý nhà nước, Văn thư - Lưu trữ: Tham khảo cấu trúc diễn ngôn, cách thức tổ chức thông tin và phân loại hành vi ngôn ngữ hành chính phục vụ công tác biên soạn bài giảng kỹ thuật soạn thảo văn bản.
- Cán bộ, công chức làm công tác tham mưu, văn phòng tại các cơ quan chính quyền địa phương: Tham khảo các phân tích về chuẩn mực từ ngữ xưng hô, lựa chọn động từ ngữ vi chỉ đạo, điều hành và cách thức danh hóa để viết văn bản hành chính chính xác, rõ ràng, đúng thẩm quyền và thể thức.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn ngữ liệu thực tế được luận án khảo sát gồm những loại văn bản nào, với số lượng và phạm vi ra sao?
Nguồn ngữ liệu của luận án gồm 288 văn bản hành chính thông thường do Ủy ban nhân dân các cấp (xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã, tỉnh/thành phố) tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng ban hành trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018. Tác giả khảo sát 6 loại văn bản phổ biến với số lượng 48 văn bản cho mỗi loại: quyết định, công văn, kế hoạch, báo cáo, thông báo và tờ trình.
2. Kiểu quá trình chuyển tác nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong diễn ngôn văn bản hành chính cấp địa phương theo kết quả khảo sát?
Theo Bảng 2.1 của luận án, quá trình phát ngôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 685 trường hợp (đạt 46,3%), tiếp theo là quá trình vật chất với 584 trường hợp (đạt 39,5%). Các quá trình quan hệ (5,6%), hành vi (3,9%), tinh thần (3,3%) và hiện hữu (1,4%) chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số 1.478 quá trình được thống kê.
3. Cấu trúc hoàn chỉnh của một quá trình phát ngôn trong văn bản hành chính được mô hình hóa như thế nào?
Cấu trúc hoàn chỉnh của quá trình phát ngôn được mô hình hóa gồm: Phát ngôn thể + Tham tố mở rộng + Vị tố phát ngôn + Tiếp ngôn thể + Ngôn thể + Đích ngôn thể + Chu cảnh. Trong đó, hai thành tố mang tính bắt buộc phải xuất hiện là Vị tố phát ngôn và Ngôn thể, các thành tố còn lại có thể xuất hiện tùy theo ngữ cảnh cụ thể.
4. Khung lý thuyết phân tích diễn ngôn chính mà luận án áp dụng là gì?
Luận án áp dụng khung lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG) của M.A.K. Halliday kết hợp với các mô hình vận dụng vào tiếng Việt của Hoàng Văn Vân, Diệp Quang Ban và Nguyễn Hòa, tập trung phân tích ba siêu chức năng: chức năng kinh nghiệm (hệ thống chuyển tác, danh hóa), chức năng liên nhân (từ ngữ xưng hô, hành vi ngôn ngữ/lực ngôn trung) và chức năng tạo văn bản (cấu trúc diễn ngôn, Đề - Thuyết, liên kết và mạch lạc).
5. Văn bản hành chính cấp địa phương thể hiện đặc trưng xưng hô như thế nào nhằm bảo đảm tính khách quan và quyền lực nhà nước?
Diễn ngôn văn bản hành chính cấp địa phương không sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít và từ ngữ xưng hô thân tộc; thay vào đó, hệ thống xưng hô sử dụng triệt để tên gọi cơ quan, tổ chức (như UBND các cấp, các phòng, ban) hoặc chức danh, chức vụ chính thức của người có thẩm quyền. Điều này bảo đảm tính đại diện tập thể, phản ánh vị thế hành chính, khoảng cách xã hội và duy trì tính nghiêm túc, khách quan của công quyền.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trương Thị Thủy là công trình khảo cứu chuyên sâu về ngôn ngữ văn bản hành chính thông thường cấp địa phương tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng dưới góc nhìn của lý thuyết phân tích diễn ngôn chức năng hệ thống. Bằng phương pháp miêu tả kết hợp thống kê định lượng trên nguồn ngữ liệu 288 văn bản, công trình đã làm sáng tỏ cơ chế hiện thực hóa ba siêu chức năng ngôn ngữ: chức năng kinh nghiệm thông qua ưu thế của quá trình phát ngôn và vật chất cùng kỹ thuật danh hóa; chức năng liên nhân qua hệ thống xưng hô thể chế và các hành vi ngôn ngữ mang lực ngôn trung rõ nét; chức năng tạo văn bản qua cấu trúc Đề - Thuyết và mạng lưới liên kết, mạch lạc chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở lý luận về phân tích diễn ngôn tiếng Việt chuyên ngành hành chính mà còn cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và thực hành soạn thảo văn bản quản lý nhà nước tại các cơ quan địa phương.