mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: các kiểu cuộc thoại, hoàn cảnh giao tiếp, sự hiểu biết về nhau của các nhân vật hội thoại. Cặp thoại Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của một cuộc thoại do các tham thoại tạo nên. Có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để phân loại các cặp thoại như sau: - Cặp thoại một tham thoại: là cặp thoại chỉ có tham thoại dẫn nhập của Sp1 mà không có tham thoại hồi đáp của Sp2, nghĩa là chỉ có phát ngôn của người nói còn người nghe im lặng hoặc thể hiện bằng hành động thay cho lời nói, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng”. - Cặp thoại hai tham thoại: là dạng thường gặp nhất trong hội thoại.
Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng với một chức năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai được gọi là tham thoại hồi đáp. Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặp thoại trong giao tiếp. - Cặp thoại ba tham thoại: là cặp thoại có tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp – dẫn nhập và tham thoại hồi đáp. - Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia, hoặc có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Cặp thoại phức tạp bao gồm các dạng: Dạng cặp thoại thứ nhất: có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp. Dạng cặp thoại thứ hai: có một tham thoại dẫn nhập, với nhiều tham thoại hồi đáp. Dạng cặp thoại thứ ba: có nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía. Tham thoại Theo Đỗ Hữu Châu, “tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” (tr.
Tham thoại là đơn vị dùng để cấu tạo nên cặp thoại. Mỗi tham thoại có thể nằm trong quan hệ trao đáp theo những hướng khác nhau. Nó vừa là tham 14 thoại hồi đáp cho cặp thoại này, lại vừa đóng vai trò dẫn nhập cho một cặp thoại khác. Nói khác đi, mỗi tham thoại thực hiện chức năng dẫn nhập hoặc hồi đáp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, khi đó gọi là tham thoại có chức năng kép.
Ngoài ra, cần có sự phân biệt giữa tham thoại với lượt lời. Một lượt lời có thể chứa nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại. Bình thường. Anh đi đâu về? (5) – Tôi vừa đi Bửu Long về.
(6) – Vĩnh Long chứ! Ví dụ trên gồm có 3 cặp thoại. Trong đó, cặp thoại (1) - (2) gồm hai tham thoại chào. Trong cặp thoại (3) - (4) thì (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi (trường hợp này lượt lời bằng với tham thoại), (4) là một lượt lời gồm ba tham thoại: một tham thoại cảm ơn, một tham thoại hồi đáp và một tham thoại hỏi lại (trường hợp này lượt lời lớn hơn tham thoại). Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên.
Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hướng làm nòng cốt và có thể có thêm một hoặc một số hành vi phụ thuộc. Hành vi chủ hướng đảm nhiệm vai trò quyết định mục địch giao tiếp của tham thoại chứa nó, đồng thời tham gia kết hợp với hành vi chủ hướng nằm ở tham thoại khác để tạo nên cặp kế cận. Hành vi phụ thuộc có vai trò làm rõ lí do hoặc bổ sugn nghĩa cho hành động chủ hướng trong quá trình hội thoại. Khi tham thoại chỉ có một hành vi ngôn ngữ thì ranh giới tham thoại sẽ trùng với ranh giới hành vi.
Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân loại tham thoại thành một số loại sau: - Tham thoại dẫn nhập là tham thoại có chức năng mở đầu cho một cặp thoại. 15 - Tham thoại hồi đáp – dẫn nhập là tham thoại có chức năng phản hồi tham thoại dẫn nhập, đồng thời đặt ra vấn đề cần phản hồi cho tham thoại tiếp theo. - Tham thoại hồi đáp đóng vai trò kết thúc cặp thoại. Hành vi ngôn ngữ Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi.
Theo cách hiểu của O. Ducrot, “hành vi có hiệu lực ở lời là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại. Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời trong một tham thoại, người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình và có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một tham thoại có hành vi ở lời tương ứng” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 2001, tr. Ví dụ: cầu khiến / đáp ứng, hỏi / trả lời, yêu cầu / thực hiện… Những trách nhiệm và quyền lực đó làm cho các hành vi ngôn ngữ có tính chất quy ước.
Bên cạnh đó, cùng một phát ngôn nhưng có thể ẩn chứa nhiều hành vi có hiệu lực ở lời khác nhau. Chúng tôi xin đề cập đến hai hành vi có hiệu lực ở lời là: hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp và hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp. - Hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng. Chẳng hạn, dùng hình thức cầu khiến để biểu thị hành vi yêu cầu, ra lệnh: Hãy đứng lên! Mọi người trật tự! Nhanh chân lên!.
dùng hình thức hỏi để biểu hiện hành vi hỏi: Anh đi đâu? Mấy giờ rồi? Em tên gì?. - Hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện thông qua sự suy luận của người nghe, căn cứ vào ngữ cảnh. Ví dụ: A và B đang ngồi học bài cùng nhau. A hỏi:“Bạn có bút xóa không?” thì B sẽ suy ra A muốn yêu cầu mình cho mượn bút xóa.
Trong trường hợp này, phát ngôn của A có hình thức là câu hỏi nhưng được dùng với mục đích yêu cầu, đề nghị. Phương châm hội thoại Grice là tác giả của khái niệm phương châm hội thoại. Phương châm hội thoại gắn liền với nguyên lí cộng tác hội thoại. Những phác thảo đầu tiên của nguyên lí cộng tác được tác giả nêu trong các bài giảng của đại học Havard (1967).
Đến năm 1975 tập hợp những 16 bài giảng được xuất bản trong cuốn “Logic và hội thoại” (“Logic and Conversation”). Từ năm 1978 đến 1981, Grice đã có những bổ sung cho nguyên tắc hội thoại của mình trong một số bài báo. Nguyên lí cộng tác gồm một nguyên lí khái quát bao trùm và bốn phạm trù theo quan niệm của Kant (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 2001, tr. Mỗi phạm trù tương ứng với một phương châm, mỗi phương châm lại gồm một số phương châm nhỏ (tiểu phương châm).
Có thể khái quát nội dung của bốn phương châm như sau: - Phương châm về lượng: đòi hỏi phần đóng góp của người tham gia giao tiếp có lượng thông tin đúng như đích đang diễn ra của từng phẩn hội thoại, không cung cấp thừa hoặc thiếu thông tin. - Phương châm về chất: yêu cầu người tham gia hội thoại phải nói những điều có bằng chứng xác thực. - Phương châm cách thức: yêu cầu tránh lối nói tối nghĩa, mập mờ, cần nói ngắn gọn và theo trật tự logic. - Phương châm quan hệ: đòi hỏi phát ngôn phải đúng chỗ, hợp ngữ cảnh.
Phương châm hội thoại và ngữ cảnh giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp cần lưu ý đến ngữ cảnh, tình huống giao tiếp. Ngữ cảnh có ảnh hưởng lớn đến việc giải thích các phát ngôn. Muốn xác định một phát ngôn có tuân thủ phương châm hội thoại hay không, người nói không chỉ cần nắm vững các phương châm hội thoại mà còn phải xem xét nó trong mối quan hệ với ngữ cảnh. Chẳng hạn, xét các ví dụ: (1) Việt Nam chiến thắng.
(2) Chúng tôi đã cố gắng hết sức. Ở (1), nếu đặt trong ngữ cảnh Việt Nam đang tham gia giải thể thao quốc tế và giành được chiến thắng thì lại khác với việc Việt Nam giành chiến thắng trong vụ kiện với Hiệp hội cá da trơn của Mĩ. Còn ở (2), nếu đặt câu nói trong ngữ cảnh ở một bệnh viện thì hoàn toàn khác với ngữ cảnh của lời giải thích cho thất bại của Việt Nam tại Suzuki AFF Cup 2010. Các phương châm hội thoại Những người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ các phương châm hội thoại mà Grice đề ra thì cuộc giao tiếp mới đạt hiệu quả cao.
Bốn phương châm hội thoại lần lượt là: - Phương châm về lượng: Theo Đỗ Hữu Châu,“Phương châm về lượng yêu cầu phần đóng góp của anh, chị vào cuộc hội thoại đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn của cuộc thoại mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào” (tr. Như vậy, hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích đang đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại. Ví dụ: A: Anh đi đâu vậy? B: Tôi đi ra chợ. Trong lượt lời B, người đáp đã cung cấp lượng tin đúng như đòi hỏi của A đang diễn ra cuộc thoại giữa hai người.
Và như vậy cuộc thoại trên đã tuân thủ phương châm về lượng. Grice đã minh họa một cách rất cụ thể phương châm về lượng của ông như sau: “Nếu ai đó giúp tôi sửa xe, tôi mong đợi sự đóng góp của người đó phù hợp không hơn với điều tôi đang chờ. Nếu tôi cần bốn cái vít thì người đó người đó đưa cho tôi không phải sáu, cũng không phải hai cái vít” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 2001, tr. Qua lời minh họa trên ta thấy nội dung của phương châm lượng khi thực hiện trong giao tiếp là cần nói có nội dung đủ, không thừa, không thiếu.
Mọi sự thừa thãi về thông tin có thể làm cho những người tham gia hội thoại nghĩ rằng nó được tạo ra vì một lí do nào đó không liên quan tới cuộc thoại đang diễn ra. - Phương châm về chất: Đỗ Hữu Châu cho rằng phương châm về chất yêu cầu “hãy nói sao cho có nội dung đáng nói, đừng nói nhiều hơn cái nội dung đáng nói, muốn giao tiếp hiệu quả thì nội dung của lời nói còn phải đúng, có tính xác thực” (tr. Phương châm về chất chi phối trực tiếp đến nội dung hội thoại. Yêu cầu của phương châm này là khi giao tiếp đừng nói những 18 điều mà mình tin là không đúng.