ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người, thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh. Bệnh viện Phổi Ninh Bình là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng III trực thuộc Sở Y tế Ninh Bình, có chức năng khám và điều trị các bệnh về phổi cho nhân dân trong tỉnh và các vùng lân cận. Trong những năm gần đây, bệnh viện luôn tiếp nhận lưu lượng bệnh nhân đến khám, điều trị ngày càng tăng, mô hình bệnh tật ngày càng đa dạng, mức tiêu thụ thuốc ngày càng lớn.
Vì vậy, việc xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện là điều cần thiết và hết sức quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc, ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân. Trước đây, khi xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện, chủ yếu dựa vào cơ cấu bệnh tật, kinh nghiệm và báo cáo xuất nhập tồn lấy số lượng thuốc sử dụng những năm trước để dự trù cho số lượng thuốc sử dụng cho năm sau. Vì vậy còn mang tính chủ quan, danh mục xây dựng chưa sát thực tế, tính chính xác không cao. Việc tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, hợp lý đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Để thực hiện được mục tiêu này, không thể thiếu nhiệm vụ quan trọng là lựa chọn được danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện hợp lý. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào phân tích về danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Phổi Ninh Bình. Do đó, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Phổi Ninh Bình năm 2021” với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Phổi Ninh Bình năm 2021.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Phổi Ninh Bình theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần quan trọng trong việc xây dựng danh mục thuốc sát với tình hình thực tế, mang lại tính chính xác cao, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng thuốc sử dụng tại bệnh viện ngày càng an toàn, hiệu quả và hợp lý hơn. Các văn bản quản lý liên quan đến vấn đề nghiên cứu * Thông tư số 22/2011/TT- BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế ban hành về việc quy định về tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện. Hoạt động chính của khoa Dược bệnh viện là lập kế hoạch và tổ chức cung ứng thuốc, theo dõi và quản lý nhập, xuất thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, tồn trữ thuốc, thông tin và tư vấn sử dụng thuốc.
Do đó, xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện hàng năm theo nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng là một nhiệm vụ chủ yếu của Khoa dược bệnh viện [11]. * Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế ban hành về việc quy định tổ chức và hoạt động của HĐT và điều trị trong bệnh viện. Hội đồng thuốc và điều trị có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện, với các nhiệm vụ chính sau: + Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, + Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị, + Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, + Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị, + Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc. Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng các quy định cụ thể về các tiêu chí lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện trên cơ sở các phương pháp phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC/VEN [8].
* Thông tư số 05/2015/TT- BYT ngày 17/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và các vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế: 3 Danh mục thuốc được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền; Danh mục vị thuốc bao gồm 349 vị thuốc từ cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền [2]. * Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành về việc hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc hóa dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT [1] và Thông tư số 01/2020/TT-BYT ngày 16/01/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế [13]. Danh mục thuốc bệnh viện gồm những thuốc nằm trong phạm vi thanh toán của quỹ BHYT thuộc danh mục Thông tư số 30/2018/TT-BYT gồm 1.030 thuốc hóa dược và 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu. * Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [4].
Mua sắm thuốc sử dụng trong bệnh viện được thực hiện thông qua đấu thầu. Việc phân chia gói thầu, nhóm thuốc; lập kế hoạch, hình thức, phương thức, tổ chức lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc; quy định mua sắm thuốc tập trung và đàm phán giá thuốc sử dụng nguồn vốn nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập được quy định tại Thông tư số 15/2019/TT-BYT, hiện hành kết hợp với Thông tư số 15/2021/TT-BYT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2019/TT-BYT. Tại thông tư này, quy định về việc phân chia gói thầu thuốc generic được thể hiện rất chi tiết, Gói thầu thuốc generic được phân chia thành 05 (năm) nhóm theo tiêu chí kỹ thuật: Nhóm 1: Được sản xuất toàn bộ trên dây chuyền sản xuất thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn EU-GMP hoặc dây chuyền sản xuất thuốc đạt nguyên 4 tắc, tiêu chuẩn tương đương EU-GMP tại nước thuộc danh sách SRA… Nhóm 2: Được sản xuất toàn bộ trên dây chuyền sản xuất thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn EU-GMP hoặc dây chuyền sản xuất thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn tương đương EU-GMP và được cơ quan quản lý dược Việt Nam đánh giá đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn EU-GMP hoặc nguyên tắc, tiêu chuẩn tương đương EU- GMP.Hoặc được sản xuất toàn bộ trên dây chuyền sản xuất thuốc tại nước là thành viên PIC/s đồng thời là thành viên ICH, được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước này cấp chứng nhận đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn PIC/s-GMP và được cơ quan quản lý dược Việt Nam đánh giá đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn PIC/s-GMP. Nhóm 3: Các thuốc được sản xuất trên dây chuyền sản xuất thuốc được cơ quan quản lý dược Việt Nam đánh giá đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP và có nghiên cứu tương đương sinh học được cơ quan quản lý dược Việt Nam công bố.
Nhóm 4: các thuốc được sản xuất toàn bộ trên dây chuyền sản xuất tại Việt Nam được cơ quan quản lý dược Việt Nam đánh giá đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn WHO-GMP. Nhóm 5: các thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất thuốc được cơ quan quản lý dược Việt Nam đánh giá đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn WHO-GMP và không thuộc các trường hợp thuốc nhóm 1, 2, 3, 4. Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc Tại Việt Nam, thống kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 60% ngân sách của bệnh viện. Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện.
Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN [8]. Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp. Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm Phương pháp phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [8]. b) Vai trò và ý nghĩa + Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất.
+ Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. + Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí thấp nhất nhưng hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế [6]. c) Các bước thực hiện - Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn viện. - Phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: Phân loại này có thể dựa vào phân loại trong “Danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)” hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại “Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS)” hoặc hệ thống phân loại “Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới”… Trong đề tài tôi phân tích nhóm tác dụng dược lý theo “Thông tư số 30/2018/TT-BYT hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc hóa dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT” và “Thông tư 05/2015/TT-BYT, ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế Ban hành Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền” thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế [2].
- Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc, từ đó xác định tình hình kê đơn thuốc thực tế đang tập trung vào những nhóm 6 thuốc nào thông qua việc xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất.