Phân Tích Đặc Điểm Tuổi, Giới, Nội Soi và Mô Bệnh Học của Ung Thư Dạ Dày

Bài viết phân tích phân bố tuổi, đặc điểm nội soi và mô bệnh học của ung thư dạ dày, cung cấp thông tin hữu ích cho nghiên cứu và điều trị.

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2020

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ DẠ DÀY

1.2. YẾU TỐ NGUY CƠ

1.3. CƠ CHẾ SINH BỆNH

1.4. ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI CỦA UNG THƯ DẠ DÀY

1.4.1. Vị trí khối u

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp xử lí số liệu

2.4. Vấn đề tuân thủ y đức trong nghiên cứu

2.5. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Phân bố tuổi, giới của ung thư dạ dày

3.2. Đặc điểm nội soi của ung thư dạ dày

3.3. Đặc điểm mô bệnh học của ung thư dạ dày

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Phân bố tuổi, giới của ung thư dạ dày

4.2. Đặc điểm nội soi của ung thư dạ dày

4.3. Đặc điểm mô bệnh học của ung thư dạ dày

MỘT SỐ ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ung Thư Dạ Dày Dịch Tễ Học Yếu Tố Nguy Cơ

Ung thư dạ dày (UTDD) là một vấn đề sức khỏe toàn cầu, xếp thứ 5 trong các bệnh ung thư phổ biến và thứ 3 về nguyên nhân gây tử vong do ung thư. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh đã giảm ở nhiều quốc gia trong 50 năm qua, UTDD vẫn là một thách thức lớn, đặc biệt ở châu Á. Việt Nam là một quốc gia có nguy cơ UTDD trung bình, với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng kể. Việc chẩn đoán sớm UTDD là rất quan trọng để cải thiện tiên lượng sống còn. Các yếu tố nguy cơ bao gồm nhiễm Helicobacter pylori, chế độ ăn uống, hút thuốc và yếu tố di truyền. Việc hiểu rõ dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ là chìa khóa để phòng ngừa và phát hiện sớm UTDD. Theo Globocan 2018, Việt Nam đứng thứ 10 về tỷ lệ mới mắc và thứ 7 về tỷ lệ tử vong do UTDD.

1.1. Dịch Tễ Học Ung Thư Dạ Dày Toàn Cầu và Tại Việt Nam

Tỷ lệ mắc UTDD có sự khác biệt lớn giữa các khu vực trên thế giới. Các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, trong khi Bắc Mỹ và Châu Phi có tỷ lệ thấp nhất. Việt Nam nằm trong khu vực có nguy cơ trung bình. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm điều trị UTDD còn thấp do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn. Việc tầm soát và chẩn đoán sớm là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng. Nghiên cứu của Đỗ Đình Công ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 60-69, kế đến là 70-79 và 50-59, tuổi trung bình là 59,8 ± 12,9, tỷ lệ nam:nữ là 2,3:1.

1.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Chính Gây Ung Thư Dạ Dày

Nhiễm Helicobacter pylori là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây UTDD. Chế độ ăn uống, đặc biệt là chế độ ăn mặn và thực phẩm chứa nhiều nitrate, cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Hút thuốc lá và uống rượu cũng là những yếu tố nguy cơ đã được chứng minh. Yếu tố di truyền cũng đóng vai trò trong sự phát triển của UTDD. Đột biến gen p53, p16 có trong cả UTDD típ ruột và típ lan tỏa. Ngoài ra, đột biến gen APC, giảm biểu hiện gen p27, sự không ổn định của các tiểu vệ tinh có liên quan đến sự biến chuyển các tổn thương tiền ung thư thành UTDD típ ruột.

II. Phân Loại Mô Bệnh Học Ung Thư Dạ Dày Lauren WHO

Phân loại mô bệnh học đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị UTDD. Hai hệ thống phân loại chính là phân loại Lauren và phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Phân loại Lauren chia UTDD thành hai loại chính: típ ruột và típ lan tỏa. Phân loại WHO cung cấp thông tin chi tiết hơn về các loại tế bào ung thư và mức độ biệt hóa của chúng. Việc hiểu rõ các loại mô bệnh học khác nhau giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp. Năm 1965, Lauren [50] dựa vào những đặc điểm mô bệnh học đã phân chia UTDD thành 2 típ là típ ruột và típ lan tỏa.

2.1. Phân Loại Lauren Típ Ruột và Típ Lan Tỏa

UTDD típ ruột có đặc trưng là các tế bào ác tính hợp nhất để hình thành cấu trúc tuyến giống như cấu trúc tuyến ở ruột. UTDD típ lan tỏa có các tế bào ác tính đứng riêng lẻ, rời rạc, không hình thành cấu trúc rõ ràng. Típ ruột thường liên quan đến các yếu tố môi trường, trong khi típ lan tỏa có liên quan nhiều hơn đến yếu tố di truyền. Năm 1975, Correa [31] đề xuất một mô hình bệnh sinh áp dụng chủ yếu đối với UTDD típ ruột.

2.2. Phân Loại WHO 2010 Chi Tiết Về Các Loại Tế Bào Ung Thư

Phân loại WHO 2010 cung cấp thông tin chi tiết hơn về các loại tế bào ung thư, bao gồm ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào vảy và các loại hiếm gặp khác. Phân loại này cũng đánh giá mức độ biệt hóa của tế bào ung thư, từ biệt hóa rõ đến biệt hóa kém. Thông tin này giúp bác sĩ đánh giá mức độ ác tính của ung thư và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Đột biến gen p53, p16 có trong cả UTDD típ ruột và típ lan tỏa.

III. Nội Soi Ung Thư Dạ Dày Vị Trí Hình Thái Phân Loại

Nội soi là một công cụ quan trọng trong chẩn đoán UTDD. Nội soi cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp niêm mạc dạ dày và phát hiện các tổn thương nghi ngờ. Trong quá trình nội soi, bác sĩ sẽ đánh giá vị trí, hình thái và kích thước của khối u. Các tổn thương có thể được phân loại theo hệ thống phân loại của Nhật Bản hoặc phân loại Borrmann. Nội soi cũng cho phép bác sĩ lấy mẫu sinh thiết để xác định mô bệnh học của ung thư. Dựa theo phân loại UTDD của Nhật Bản, để xác định vị trí tổn thương dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chia làm 3 vùng bằng cách trên bờ cong nhỏ và bờ cong lớn lần lượt lấy 2 điểm chia các bờ cong thành ba đoạn bằng nhau.

3.1. Xác Định Vị Trí Khối U Ung Thư Dạ Dày Qua Nội Soi

Vị trí khối u là một yếu tố quan trọng trong việc xác định giai đoạn và lựa chọn phương pháp điều trị UTDD. Khối u có thể nằm ở tâm vị, thân vị, hang vị hoặc toàn bộ dạ dày. Vị trí khối u cũng có thể ảnh hưởng đến triệu chứng của bệnh nhân. Để xác định vị trí tổn thương dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chia làm 3 vùng bằng cách trên bờ cong nhỏ và bờ cong lớn lần lượt lấy 2 điểm chia các bờ cong thành ba đoạn bằng nhau.

3.2. Phân Loại Hình Thái Ung Thư Dạ Dày Borrmann Nhật Bản

Phân loại Borrmann được sử dụng để mô tả hình thái của UTDD giai đoạn tiến triển. Phân loại Nhật Bản được sử dụng để mô tả hình thái của UTDD giai đoạn sớm. Các hình thái khác nhau của UTDD có thể có tiên lượng khác nhau. Các dạng tổn thương của ung thư biểu mô tuyến dạ dày giai đoạn sớm .5: Típ 0-I: Tổn thương dạng lồi, giống polyp.6: Típ 0-IIa: Tổn thương dạng phẳng, hơi gồ cao hơn niêm mạc xung quanh.

IV. Tuổi và Giới Tính Ảnh Hưởng Đến Ung Thư Dạ Dày

Tuổi và giới tính là những yếu tố quan trọng cần xem xét khi đánh giá nguy cơ UTDD. UTDD thường gặp ở người lớn tuổi, nhưng tỷ lệ UTDD ở người trẻ tuổi đang có xu hướng gia tăng. Nam giới có nguy cơ mắc UTDD cao hơn nữ giới. Sự khác biệt về tuổi và giới tính có thể liên quan đến các yếu tố nguy cơ khác nhau và đặc điểm sinh học của bệnh. Tại Việt Nam, ngưỡng tuổi thích hợp để khuyến cáo nội soi cho những bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên để tránh bỏ sót bệnh lý ác tính đường tiêu hóa trên vẫn chưa rõ.

4.1. Ung Thư Dạ Dày Ở Người Trẻ Tuổi Đặc Điểm và Tiên Lượng

UTDD ở người trẻ tuổi thường có những đặc điểm khác biệt so với UTDD ở người lớn tuổi. Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn hơn và có tiên lượng xấu hơn. Các yếu tố nguy cơ và đặc điểm sinh học của UTDD ở người trẻ tuổi có thể khác biệt so với người lớn tuổi. Bệnh nhân trẻ tuổi là đối tượng đặc biệt vì theo nhiều nghiên cứu, đối tượng này có những đặc tính bệnh khác với dân số chung và có tiên lượng rất xấu [3],[30],[43].

4.2. Sự Khác Biệt Về Giới Tính Trong Ung Thư Dạ Dày

Nam giới có nguy cơ mắc UTDD cao hơn nữ giới. Sự khác biệt này có thể liên quan đến các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá và uống rượu, cũng như các yếu tố nội tiết tố. UTDD ở nam giới và nữ giới có thể có những đặc điểm sinh học khác nhau. Tần suất mắc UTDD ở nam cao hơn ở nữ, nam giới có nguy cơ UTDD ở tâm vị cao gấp 5 lần và UTDD ở vị trí khác gấp 2 lần [27].

V. Nghiên Cứu Phân Tích Ung Thư Dạ Dày Kết Quả Bàn Luận

Nghiên cứu về phân bố tuổi, giới, đặc điểm nội soi và mô bệnh học của UTDD cung cấp thông tin quan trọng để cải thiện chẩn đoán và điều trị bệnh. Kết quả nghiên cứu có thể giúp xác định các nhóm đối tượng có nguy cơ cao và phát triển các chiến lược tầm soát hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng có thể giúp hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh của UTDD và phát triển các phương pháp điều trị mới. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Phân bố tuổi, giới, đặc điểm nội soi và mô bệnh học của ung thư dạ dày”.

5.1. Phân Bố Tuổi và Giới Tính Của Bệnh Nhân Ung Thư Dạ Dày

Nghiên cứu cho thấy sự phân bố tuổi và giới tính của bệnh nhân UTDD có thể thay đổi theo thời gian. Tỷ lệ UTDD ở người trẻ tuổi có thể đang gia tăng. Sự thay đổi này có thể liên quan đến các yếu tố môi trường và lối sống. Nghiên cứu của Võ Duy Long cũng ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 50-59, tiếp đến là 60-69 và 40-49 với tuổi trung bình là 55,3 ± 11,3, tỷ lệ nam:nữ là 1,75:1 [15].

5.2. Đặc Điểm Nội Soi và Mô Bệnh Học Của Ung Thư Dạ Dày

Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt về đặc điểm nội soi và mô bệnh học của UTDD giữa các nhóm bệnh nhân khác nhau. UTDD ở người trẻ tuổi có thể có những đặc điểm khác biệt so với UTDD ở người lớn tuổi. Các đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến tiên lượng và đáp ứng điều trị. Vì 95% ung thư dạ dày là dạng ung thư biểu mô tuyến nên chúng tôi tập trung nghiên cứu về dạng ung thư này (UTDD) [9],[12],[84].

VI. Tương Lai Nghiên Cứu Ung Thư Dạ Dày Hướng Đi Mới

Nghiên cứu về UTDD vẫn còn nhiều thách thức và cơ hội. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ mới, phát triển các phương pháp chẩn đoán sớm hiệu quả hơn và tìm ra các phương pháp điều trị mới nhắm vào các mục tiêu phân tử cụ thể. Nghiên cứu cũng cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTDD. Việc phát hiện sớm ung thư dạ dày là rất cần thiết.

6.1. Nghiên Cứu Về Các Yếu Tố Nguy Cơ Mới Của Ung Thư Dạ Dày

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ mới của UTDD, bao gồm các yếu tố di truyền, môi trường và lối sống. Việc xác định các yếu tố nguy cơ mới có thể giúp phát triển các chiến lược phòng ngừa hiệu quả hơn. UTDD là kết quả của quá trình tích tụ nhiều sự thay đổi do tương tác giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường [64].

6.2. Phát Triển Các Phương Pháp Chẩn Đoán Sớm Ung Thư Dạ Dày

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp chẩn đoán sớm UTDD hiệu quả hơn, bao gồm các xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu và các kỹ thuật hình ảnh mới. Việc chẩn đoán sớm UTDD có thể cải thiện đáng kể tiên lượng sống còn của bệnh nhân. Nếu được phát hiện sớm, bệnh nhân có thể được điều trị bằng phương pháp cắt niêm mạc qua nội soi (EMR) hoặc phương pháp bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) mà hiệu quả cũng tương tự như phẫu thuật và tỷ lệ sống 5 năm sau điều trị >90% [37],[42],[46],[70].

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ DẠ DÀY UTDD là một trong những dạng ung thư phổ biến và gây tử vong cao trên thế giới. Nhìn chung trong 50 năm qua, tỷ lệ mới mắc UTDD giảm ổn định ở nhiều quốc gia. Tại Đài Loan, tỷ lệ mới mắc năm 1996 là 15,97/100.000 dân và giảm còn 11,57/100. Tại Mỹ, tỷ lệ mới mắc năm 1992 là 9,8/100.000 dân thì đến năm 2017 giảm còn 7,1/100.

Theo dữ liệu Globocan năm 2012, tỷ lệ mới mắc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam lần lượt là 41,8, 29,9 và 16,3 (trên 100.000 dân) thì đến năm 2018 giảm còn 39,6, 27,5 và 15,9 (trên 100. Mặc dù tỷ lệ mới mắc có khuynh hướng giảm nhưng UTDD vẫn xếp hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư thường gặp và xếp thứ 3 về nguyên nhân gây tử vong do các bệnh ung thư, chỉ sau ung thư phổi và ung thư đại trực tràng. Ước tính mỗi năm trên thế giới có hơn 1.000 người được chẩn đoán UTDD và 783.000 trường hợp tử vong do bệnh này [76]. Tỷ lệ mới mắc UTDD cao nhất ở các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và các nước Mỹ Latin; thấp nhất ở Bắc Mỹ và châu Phi [76].

Tỷ lệ mắc bệnh UTDD hiệu chỉnh theo tuổi (ASR) được dùng để phân tầng nguy cơ UTDD. Những vùng nguy cơ cao khi ASR > 20/100.000 dân, nguy cơ trung bình khi ASR từ 10-20/100.000 dân và nguy cơ thấp khi ASR < 10/100. UTDD có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng nhìn chung vẫn là bệnh của người ở độ tuổi từ 50 đến 70 tuổi [23],[43],[77],[83]. Tần suất mắc UTDD ở nam cao hơn ở nữ, nam giới có nguy cơ UTDD ở tâm vị cao gấp 5 lần và UTDD ở vị trí khác gấp 2 lần [27].

Những nghiên cứu trong nước cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu của Đỗ Đình Công ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 60-69, kế đến là 70-79 và 50-59, tuổi trung bình là 59,8 ± 12,9, tỷ lệ nam:nữ là 2,3:1 [3]. Nghiên cứu của Võ Duy Long cũng ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 50-59, tiếp đến là 60-69 và 40-49 với tuổi trung bình là 55,3 ± 11,3, tỷ lệ nam:nữ là 1,75:1 [15]. 5 Việt Nam ở khu vực châu Á và là nước có nguy cơ UTDD trung bình.

Tỷ lệ mới mắc hằng năm là 15,9/100. Tỷ lệ tử vong chung là 13,4/100. Tại Việt Nam, UTDD là ung thư phổ biến, thường gặp xếp thứ 3 chỉ sau ung thư gan và ung thư phổi. Theo Globocan 2018, Việt Nam đứng thứ 10 thế giới về tỷ lệ mới mắc UTDD và đứng thứ 7 thế giới về tỷ lệ tử vong do UTDD [76].

Ở châu Á, Việt Nam đứng thứ 7 về tỷ lệ mới mắc và đứng thứ 6 về tỷ lệ tử vong do UTDD. Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ nhất về cả tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong do UTDD [41]. Điều này cho thấy UTDD là một vấn đề đáng được quan tâm ở nước ta. Nhìn chung tỷ lệ sống 5 năm sau điều trị là 10 – 30%, ngoại trừ Nhật Bản khi tỷ lệ sống 5 năm là hơn 50% [33],[85] [12],[25].

Tỷ lệ tử vong do UTDD còn cao vì bệnh nhân thường được chẩn đoán ở giai đoạn trễ. Phương pháp điều trị và tiên lượng sống còn khi UTDD được phát hiện ở giai đoạn sớm hay trễ rất khác nhau. Nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống 5 năm sau điều trị hơn 90% [46],[70]. Hơn nữa, UTDD giai đoạn sớm có thể được điều trị bằng phương pháp cắt niêm mạc qua nội soi (EMR) hoặc bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) là những phương pháp nhẹ nhàng hơn, ít biến chứng hơn mà hiệu quả cũng tương đương như phẫu thuật cắt dạ dày, vốn là một phẫu thuật lớn [37],[42].

Ngược lại, nếu phát hiện UTDD ở giai đoạn trễ, tỷ lệ sống 5 năm chỉ còn trong khoảng 10% - 20% và phương pháp điều trị thường là phẫu thuật [34]. Tại Việt Nam, tỷ lệ sống 5 năm sau mổ của UTDD giai đoạn sớm là 79,5% và của UTDD giai đoạn tiến triển là 21,76% [14]. Mặt khác, UTDD đang có xu hướng trẻ hóa [24],[63] và có nhiều ý kiến trong nước cho rằng tình hình UTDD ở Việt Nam cũng theo xu hướng đó. Do đó, việc phát hiện sớm UTDD là rất cần thiết.2 YẾU TỐ NGUY CƠ UTDD là kết quả của quá trình tích tụ nhiều sự thay đổi do tương tác giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường [64].1 Yếu tố môi trường - Nhiễm Helicobacter pylori: năm 1994, Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế IARC đã xác nhận H.

pylori là tác nhân gây ung thư dạ dày nhóm I [9],[33],[64]. Ước tính hơn một nửa dân số thế giới bị nhiễm H. pylori và trong số đó chỉ có khoảng 1% sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày [9],[33],[34]. Yếu tố quyết định diễn tiến tình trạng nhiễm H.

pylori thành các bệnh lý trên lâm sàng còn tùy thuộc vào mối tương tác giữa 3 yếu tố: chủng H. pylori, đặc điểm di truyền của ký chủ và các yếu tố môi trường khác. pylori sản xuất protein CagA, VacA, BabA và SabA thường dễ gây loét dạ dày tá tràng và ung thư biểu mô tuyến dạ dày hơn những chủng khác [10]. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ việc điều trị tiệt trừ H.

pylori có thể làm giảm nguy cơ UTDD [34]. Vì vậy, để làm giảm nguy cơ UTDD, hướng dẫn của đồng thuận khu vực Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 2 về phòng ngừa UTDD đã khuyến cáo những vùng dân số nguy cơ UTDD cao nên sàng lọc và điều trị tiệt trừ H. pylori, tốt nhất là 10-20 năm trước khi bước vào độ tuổi thường mắc UTDD [34]. - Chế độ ăn: chế độ ăn mặn, thực phẩm có nồng độ nitrate cao hoặc sử dụng thức ăn bảo quản bằng cách ướp muối sẽ làm tăng nguy cơ UTDD.

Chế độ ăn giàu chất xơ, rau quả, trái cây sẽ làm giảm nguy cơ UTDD [34]. - Rượu và thuốc lá: cũng làm tăng nguy cơ UTDD. Những người hút thuốc lá sẽ có nguy cơ mắc UTDD gấp 1,5-3 lần so với những người không hút thuốc lá.2 Yếu tố di truyền: Sự biến đổi gen có thể chia thành 2 nhóm: gen sinh ung thư bị biến đổi và tăng cường hoạt động và gen ức chế ung thư bị biến đổi làm giảm hoặc mất hoạt tính [9]. Đột biến gen p53, p16 có trong cả UTDD típ ruột và típ lan tỏa.

Ngoài ra, đột biến gen APC, giảm biểu hiện gen p27, sự không ổn định của các tiểu vệ tinh có liên quan đến sự biến chuyển các tổn thương tiền ung thư thành UTDD típ ruột. 7 biến làm giảm hoặc mất E-Cadherin, khuếch đại gen k-sam, c-met có liên quan đến UTDD típ lan tỏa [9],[69],[85].3 CƠ CHẾ SINH BỆNH Năm 1965, Lauren [50] dựa vào những đặc điểm mô bệnh học đã phân chia UTDD thành 2 típ là típ ruột và típ lan tỏa. UTDD típ ruột có đặc trưng là những tế bào ác tính hợp nhất để hình thành cấu trúc tuyến giống như cấu trúc tuyến ở ruột. Còn những tế bào ác tính của UTDD típ lan tỏa đứng riêng rẻ, rời rạc, không hình thành cấu trúc rõ ràng [50].

Năm 1975, Correa [31] đề xuất một mô hình bệnh sinh áp dụng chủ yếu đối với UTDD típ ruột. Theo đó, UTDD típ ruột là kết quả của một quá trình kéo dài nhiều năm, trải qua nhiều giai đoạn và chịu tác động của nhiều yếu tố làm thay đổi dần niêm mạc dạ dày. Những giai đoạn chính của quá trình này đã được nhận diện gồm viêm dạ dày mạn, viêm dạ dày mạn teo, chuyển sản ruột, loạn sản và cuối cùng dẫn đến UTDD. Yếu tố môi trường, đặc biệt là chế độ ăn và nhiễm trùng có vai trò quan trọng trong típ ung thư này.

Đối với UTDD típ lan tỏa, mô hình trên không thể áp dụng khi mà diễn tiến từ viêm dạ dày mạn đến UTDD xảy ra rất nhanh, có thể không thông qua các giai đoạn trung gian viêm dạ dày mạn teo, chuyển sản ruột. Những tổn thương tiền ung thư của típ này vẫn chưa được xác định rõ. Yếu tố di truyền được cho là quan trọng hơn yếu tố môi trường trong típ ung thư này [31],[32],[33]. Mô hình của Correa đã đứng vững theo thời gian và vào năm 1983, nguyên nhân của giai đoạn đầu tiên – viêm dạ dày mạn – cuối cùng cũng được xác định với sự phát hiện vi khuẩn Helicobacter pylori của Warren và Marshall [33].4 ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI CỦA UNG THƯ DẠ DÀY 1.1 Vị trí khối u 1.1 Vị trí khối u theo trục dọc dạ dày Dựa theo phân loại UTDD của Nhật Bản, để xác định vị trí tổn thương dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chia làm 3 vùng bằng cách trên bờ cong nhỏ và bờ cong lớn lần lượt lấy 2 điểm chia các bờ cong thành ba đoạn bằng nhau.

Khi nối liền điểm giữa 1/3 trên và 1/3 giữa của hai bờ cong và nối liền điểm giữa 1/3 giữa và 1/3 dưới của hai bờ cong, dạ dày sẽ được chia thành ba phần theo trục dọc thứ tự từ trên xuống dưới là 1/3 trên hay cực trên, ký hiệu là U (upper), 1/3 giữa hay phần thân, ký hiệu là M (middle) và 1/3 dưới hay cực dưới, ký hiệu là L (lower). Nếu khối u vượt quá một phần, tất cả các phần có liên quan sẽ được ký hiệu theo thứ tự giảm dần kích thước phần có liên quan đến khối u. Ví dụ LM, hay UML.1: Ba phần của dạ dày theo trục dọc. U: 1/3 trên, M: 1/3 giữa, L: 1/3 dưới Nguồn: Japanese classification of gastric carcinoma: 3rd English edition [44] .2 Vị trí khối u theo trục ngắn dạ dày Để xác định vị trí khối u, bên cạnh việc xác định vị trí theo trục dọc, còn có thể xác định vị trí theo trục ngắn dựa vào mặt cắt ngang dạ dày.

Trên mặt cắt ngang, theo chu vi, dạ dày được chia thành bốn vùng gồm mặt trước, mặt sau, bờ cong nhỏ và bờ cong lớn.2: Bốn phần của dạ dày theo trục ngắn. Ant: mặt trước, Post: mặt sau, Less: bờ cong nhỏ, Gre: bờ cong lớn Nguồn: Japanese classification of gastric carcinoma: 3rd English edition [44] 1.2 Dạng đại thể của ung thư dạ dày trên nội soi UTDD được chia thành 2 nhóm là UTDD giai đoạn sớm và UTDD giai đoạn tiến triển. Theo định nghĩa, UTDD giai đoạn sớm là những khối u khu trú ở lớp niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc bất kể di căn hạch [33].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ