Chương 1. Những vấn ñề lý luận về ñô thị, ñô thị hoá và phương pháp ñánh giá mức ñộ ñô thị hoá. Vận dụng phương pháp phân tích ña tiêu chí ñánh giá mức ñộ ñô thị hoá ở Việt Nam, lấy Hà Nội (Trước ngày 1-8-2008) làm ví dụ. Quan ñiểm và giải pháp phát triển ñô thị ở Việt Nam và Hà Nội ñến năm 2020.
NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ ðÔ THỊ, ðÔ THỊ HOÁ VÀ PHƯƠNG PHÁP ðÁNH GIÁ MỨC ðỘ ðÔ THỊ HOÁ 1. Khái niệm về ñô thị, ñô thị hoá và một số khái niệm khác có liên quan 1. Khái niệm về ñô thị và vùng ñô thị 1/ ðô thị Các khái niệm về ñô thị ñều có tính tương ñối xuất phát từ sự khác nhau về trình ñộ phát triển kinh tế xã hội, ñặc ñiểm văn hoá, hệ thống dân cư. Mỗi nước trên thế giới có quy ñịnh riêng tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình.
Nếu xem xét trên một phương diện chung nhất thì ñô thị là một không gian cư trú của cộng ñồng người sống tập trung và hoạt ñộng trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. [37] Trên quan ñiểm xã hội học, ñô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong một phạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người. “Sự tồn tại của ñô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn ñề ñơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa ñộc lập với nhau, ở ñây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành. ðó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó”.
[7] Trên góc ñộ quản lý kinh tế - xã hội, ñô thị là ñiểm tập trung dân cư với mật ñộ cao, chủ yếu là lao ñộng phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện. [3] Ở Việt Nam, ñô thị ñược Nhà nước quy ñịnh là các thành phố, thị xã, thị trấn có số dân từ 4000 người trở lên, trong ñó trên 65% lao ñộng trong lĩnh vực phi nông nghiệp… [9] Hiện nay quan niệm ñó ñược các nhà quản lý bổ sung thêm một tiêu chuẩn nữa là cơ sở hạ tầng kỹ thuật ñô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ñô thị có -10- thể hoàn chỉnh, ñồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa ñồng bộ nhưng phải có quy hoạch chung cho tương lai. Từ các quan niệm trên ñây, và trong ñiều kiện hiện nay, quan niệm về ñô thị cần có sự ñổi mới. Nên quan niệm chung về ñô thị như sau: ðô thị là một không gian cư trú của con người, ở ñó cư dân sống tập trung với mật ñộ cao, lao ñộng chủ yếu làm việc trong khu vực phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội phát triển, có vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất ñịnh.
Quan niệm như vậy nhằm nhấn mạnh hai mặt là phát triển xã hội và phát triển kinh tế ở ñô thị. Về mặt xã hội, ñô thị là một hình thức cư trú, ở ñó có mật ñộ dân cư cao, mức sống cao, tiện nghi ñầy ñủ hơn cùng với những thể chế luật lệ tiến bộ. Không gian ñô thị bao gồm không gian kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan môi trường, … Về mặt kinh tế, hoạt ñộng sản xuất ở ñô thị chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ. ðể có sự phát triển kinh tế, xã hội, ñô thị phải có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tiên tiến.
Nhờ có sự phát triển về kinh tế, xã hội, mà ñô thị có vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng hoặc cả nước. Như vậy, khi nói tới ñô thị cần ñề cập ñến các yếu tố cơ bản cấu thành ñô thị như quy mô, mật ñộ dân số, sự phát triển kinh tế, xã hội, hình thức lao ñộng và tính hiện ñại của cơ sở hạ tầng, và vai trò của ñô thị ñối với vùng và cả nước. 2/ Vùng ñô thị Vùng ñô thị là một không gian bao gồm nhiều ñô thị có mối quan hệ tương tác với nhau, nương tựa, hỗ trợ, hợp tác ñể cùng phát triển. Thực chất vùng ñô thị là một lãnh thổ với nhiều ñô thị có sự liên kết với nhau nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội trong một thể thống nhất, từ ñó tạo ra sự phát triển của mỗi ñô thị trong tổng thể phát triển bền vững của toàn bộ hệ thống ñô thị.
Trong vùng ñô thị luôn tồn tại một ñô thị trung tâm, từ ñô thị trung tâm các ñô thị vệ tinh chịu ảnh hưởng với một mức ñộ nhất ñịnh. Một trong những vấn ñề cơ bản của phát triển vùng ñô thị là việc xác ñịnh phạm vi lãnh thổ, số lượng ñô thị và cơ chế phối hợp giữa các ñô thị. Trong thực tế, không gian vùng ñô thị ñược xác ñịnh trên cơ sở ảnh hưởng của ñô thị trung -11- tâm ñến các ñô thị vệ tinh. Ranh giới vùng mang tính tương ñối và tính lịch sử phụ thuộc và sức lan toả của ñô thị trung tâm và trình ñộ quản lý, trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất của các ñô thị vệ tinh.
Có nhiều quan ñiểm về việc xác ñịnh ranh giới vùng ñô thị, song nhìn chung dựa vào phạm vi không gian ảnh hưởng của ñô thị trung tâm. Theo quan ñiểm giao thông, khoảng cách và thời gian ñi lại từ ñô thị trung tâm ñến các ñô thị vệ tinh là căn cứ ñể xác ñịnh ranh giới vùng. Theo quan ñiểm hành chính, vùng ñô thị là không gian lãnh thổ bao gồm một ñô thị trung tâm và các ñô thị lân cận tiếp giáp nhau. Các mối quan hệ chủ yếu giữa ñô thị trung tâm và vùng ảnh hưởng bao gồm: - Quan hệ về hành chính - chính trị: bao gồm các mối quan hệ giữa ñô thị trung tâm hành chính - chính trị của vùng (như thủ ñô, tỉnh lỵ, huyện lỵ.) và vùng lãnh thổ thuộc ñịa giới hành chính tương ứng.
- Quan hệ về CSHT: là các mối quan hệ về kết nối mạng lưới giao thông, cấp ñiện, cấp nước, bưu chính - viễn thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải. - Quan hệ về sản xuất: là các mối quan hệ ñầu vào - ñầu ra, quan hệ gia công - lắp ráp giữa các xí nghiệp tại các ñô thị, quan hệ về cung ứng dịch vụ (dịch vụ thương mại, y tế, giáo dục, văn hóa…) - Quan hệ về lao ñộng - việc làm: là những mối quan hệ, trao ñổi lao ñộng giữa ñô thị trung tâm và vùng xung quanh theo kiểu con lắc. - Quan hệ về du lịch - nghỉ dưỡng: các mối quan hệ hai chiều giữa ñô thị trung tâm và vùng ngoại vi. Quan niệm về ñô thị hoá Theo “Bách khoa toàn thư Wikipedia”1 “ðô thị hóa là sự mở rộng của ñô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân ñô thị hay diện tích ñô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực.
Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố ñó theo thời gian. Nếu tính theo cách ñầu thì nó còn ñược gọi là mức ñộ ñô thị hoá; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc ñộ ñô thị hoá.” Quan niệm 1 http://vi.org/ -12- như vậy chỉ phù hợp khi ñô thị ñảm nhiệm chức năng hành chính và không phù hợp với khái niệm ñô thị trong giai ñoạn hiện nay. ðô thị hoá cần ñược hiểu xuất phát từ khái niệm ñô thị. ðó là quá trình hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành ñô thị như dân số, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng v.v… Về mặt xã hội, ñô thị hoá là sự biến ñổi cách thức và ñịa ñiểm cư trú từ nơi xã hội ít văn minh tới nơi có xã hội văn minh hơn, mức sống dân cư cao hơn.
Về mặt sản xuất từ chỗ họ sản xuất phân tán với phương thức nông nghiệp là chủ yếu tới chỗ có hình thái sản xuất tập trung và sản xuất công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu, sức sản xuất lớn hơn, vai trò thúc ñẩy kinh tế - xã hội của vùng và khu vực mạnh hơn. ðô thị hoá là hiện tượng phức tạp, cần xem xét trên nhiều góc ñộ khác nhau. Trên quan ñiểm phát triển, ñô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và ñiều kiện sống theo “kiểu ñô thị”, là sự quá ñộ từ “lối sống nông thôn” lên “lối sống ñô thị” của các nhóm dân cư. ðiểm nổi bật của nó là sự phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (từ hình thức nhà cửa, phong cách làm việc, quan hệ xã hội ñến cách thức sinh hoạt v.) Trên quan ñiểm nền kinh tế quốc dân: ðô thị hoá là một quá trình phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải ñô thị thành ñô thị, ñồng thời phát triển các ñô thị hiện có theo chiều sâu.
Quá trình ñô thị hoá ñược biểu hiện cụ thể trên các phương diện như tăng quy mô và mật ñộ dân cư, phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình ñộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong khu vực. ðiểm dễ thấy nhất quá trình phát triển vùng ngoại vi của thành phố trên cơ sở phát triển công nghiệp, và cơ sở hạ tầng. Sự phát triển kinh tế, trong ñó sự hình thành và phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ là tiền ñề của quá trình ñô thị hoá. Sự phát triển các ngành này làm cho cơ cấu kinh tế thay ñổi và làm tăng khả năng tài chính ñô thị và do ñó ñô thị có khả năng mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thu hút lao ñộng, tăng quy mô dân cư v.
Tăng cường cơ sở hạ tầng trở thành yêu cầu cần thiết của sự phát triển -13- kinh tế, yêu cầu ñời sống cư dân ñô thị. Việc mở rộng, hiện ñại hoá, xây dựng mới ñường sá và các công trình giao thông là ñiều kiện cho phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá, tiết kiệm chi phí xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế ñô thị. Mở rộng ñịa giới hành chính ñô thị hiện có là một xu thế tất yếu của sự phát triển.