Phân Tích Đa Dạng Di Truyền Các Chủng Virus PRRS Genotype 1 Gây Bệnh Heo Tai Xanh Ở Việt Nam

Khóa luận phân tích đa dạng di truyền virus PRRS genotype I EU gây bệnh heo tai xanh tại Việt Nam, cung cấp thông tin quan trọng cho nghiên cứu.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

56
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

XÁC NHẬN VÀ CAM ĐOAN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục tiêu đề tài

1.2. Nội dung thực hiện

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu

2.2. Virus gây bệnh heo tai xanh (PRRSV)

2.3. Các nghiên cứu của PRRSV trên thế giới

2.4. Các phương pháp chẩn đoán PRRSV

2.5. Phản ứng RT-PCR (Reverse Transcription - PCR)

3. CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Thiết bị và dụng cụ dùng trong nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.5. Thu nhận vùng gene ORF5 bằng kỹ thuật RT-PCR

3.6. Thực hiện phản ứng Real-time PCR định chủng PRRSV

3.7. Tổng hợp soi cDNA, phản ứng PCR thu nhận gene ORF5, giải trình tự và phân tích đa dạng di truyền

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả thu nhận mẫu dương tính PRRSV bằng kỹ thuật Real-time PCR

4.2. Kết quả thu nhận vùng gene ORF5 bằng kỹ thuật RT-PCR

4.3. Kết quả phân tích đa dạng di truyền của 20 chủng PRRSV trong nghiên cứu

4.4. Cây di truyền của 20 chủng PRRSV trong nghiên cứu

4.5. Phân tích đa dạng di truyền của các chủng PRRSV trong nghiên cứu với các chủng PRRSV tham khảo

4.6. Phân tích tương đồng trình tự nucleotide và amino acid của 03 chủng PRRSV thuộc nhóm Amervac like dựa trên gene ORF5

4.7. Phân tích tương đồng trình tự nucleotide và amino acid của 17 chủng PRRSV chưa xác định phân nhóm dựa trên gene ORF5

4.8. Sự tương đồng về nucleotide và amino acid của các chủng PRRSV trong nghiên cứu với chủng vaccine tham khảo

4.9. Xác định các đột biến sai khác dựa trên trình tự amino acid tại các vị trí thuộc vùng epitope trung hòa dựa trên vùng gene ORF5

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về virus PRRS và bệnh heo tai xanh tại Việt Nam

Virus PRRS (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) là một trong những tác nhân gây bệnh nghiêm trọng nhất trong ngành chăn nuôi heo. Bệnh heo tai xanh, do virus này gây ra, đã ảnh hưởng lớn đến năng suất và sức khỏe của đàn heo tại Việt Nam. Theo thống kê, dịch bệnh này lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2007 và đã lây lan nhanh chóng, gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Việc hiểu rõ về virus PRRS và các chủng của nó là rất cần thiết để phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Đặc điểm di truyền của virus PRRS

Virus PRRS được chia thành hai genotype chính: Genotype 1 (EU - European) và Genotype 2 (NA - North American). Mỗi genotype có những đặc điểm di truyền riêng, ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh và đáp ứng miễn dịch của heo. Việc phân tích đa dạng di truyền của virus PRRS là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự biến đổi của virus này.

1.2. Tình hình dịch bệnh heo tai xanh tại Việt Nam

Tình hình dịch bệnh heo tai xanh tại Việt Nam đã có những diễn biến phức tạp. Năm 2007, dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ, ảnh hưởng đến hàng triệu con heo. Các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh cần được cải thiện để giảm thiểu thiệt hại cho ngành chăn nuôi.

II. Vấn đề và thách thức trong việc kiểm soát virus PRRS

Virus PRRS có khả năng biến đổi di truyền cao, điều này gây khó khăn trong việc phát triển vaccine hiệu quả. Sự xuất hiện của các biến chủng mới làm giảm hiệu quả của các vaccine hiện có, dẫn đến tình trạng dịch bệnh kéo dài và khó kiểm soát. Các thách thức này đòi hỏi sự nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm di truyền của virus.

2.1. Khó khăn trong việc phát hiện và chẩn đoán bệnh

Việc chẩn đoán bệnh PRRS gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng di truyền của virus. Các phương pháp chẩn đoán hiện tại cần được cải tiến để phát hiện chính xác các chủng virus mới.

2.2. Tác động kinh tế của bệnh heo tai xanh

Bệnh heo tai xanh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn heo mà còn gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi. Việc kiểm soát dịch bệnh là rất cần thiết để bảo vệ ngành chăn nuôi và đảm bảo an ninh thực phẩm.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng di truyền virus PRRS

Nghiên cứu đa dạng di truyền của virus PRRS được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu bệnh phẩm từ các trang trại heo tại Việt Nam. Các mẫu này được phân tích bằng kỹ thuật RT-PCR để thu nhận gene ORF5, sau đó tiến hành giải trình tự gene và phân tích đa dạng di truyền.

3.1. Kỹ thuật RT PCR trong nghiên cứu virus

Kỹ thuật RT-PCR là phương pháp chính được sử dụng để thu nhận gene ORF5 của virus PRRS. Phương pháp này cho phép phát hiện và định lượng virus một cách chính xác, từ đó hỗ trợ trong việc phân tích di truyền.

3.2. Phân tích trình tự gene và cây di truyền

Sau khi thu nhận gene ORF5, các trình tự gene được phân tích để xây dựng cây di truyền. Phân tích này giúp xác định mối quan hệ di truyền giữa các chủng virus PRRS và các chủng tham khảo trên thế giới.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng di truyền cao của các chủng virus PRRS tại Việt Nam. Các biến chủng mới được phát hiện có sự khác biệt di truyền rõ rệt so với các chủng vaccine hiện có, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của vaccine trong công tác phòng ngừa bệnh heo tai xanh.

4.1. Phân tích sự khác biệt di truyền giữa các chủng

Phân tích cho thấy 3/20 chủng virus PRRS thuộc nhóm Amervac like và 17/20 chủng chưa xác định được phân nhóm. Điều này cho thấy sự xuất hiện của các biến chủng mới, cần có thêm nghiên cứu để hiểu rõ hơn về chúng.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong phòng ngừa bệnh

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc phát triển các vaccine mới, phù hợp với các biến chủng virus hiện có. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa bệnh heo tai xanh tại Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu virus PRRS

Nghiên cứu về virus PRRS và sự đa dạng di truyền của nó là rất quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh heo tai xanh. Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về sự biến đổi của virus và phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

5.1. Tương lai của nghiên cứu virus PRRS

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát hiện và phân tích các biến chủng mới của virus PRRS. Điều này sẽ giúp cải thiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh.

5.2. Đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả

Cần phát triển các vaccine mới và cải tiến các phương pháp chẩn đoán để ứng phó kịp thời với sự xuất hiện của các biến chủng virus mới. Việc này sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe đàn heo và đảm bảo an ninh thực phẩm.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi là một ngành chiếm vi trí quan trọng trong cơ cau của nền kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam. Trong đó chăn nuôi heo chiếm ưu thế và có vị trí hàng đầu trong thị trường ngành chăn nuôi, đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như đời sống từ bao năm qua của người dân Việt Nam. Hiện nay, theo xu thế của một nền kinh tế đang chuyền đôi, chăn nuôi heo ở Việt Nam cũng có những bước đi mới và đạt được một số kết quả nhất định. Tại thời điểm tháng 12/2022, tổng đàn heo khoảng 26,22 triệu con (chưa bao gồm heo con theo mẹ), tăng 11,4%, tổng sản lượng thịt hoi xuất chuồng dat 7,05 triệu tan (trong đó, thịt heo chiếm 4,425 triệu tan, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2021) (Tạp Chí Chăn nuôi Việt Nam, 2023).

Bên cạnh những thế mạnh và tiềm năng của ngành chăn nuôi heo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì ngành chăn nuôi heo cũng đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Trong đó, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) gọi tắt là bệnh PRRS còn có một cái tên khác được gọi là bệnh heo tai xanh, là một trong những bệnh truyền nhiễm có ảnh hưởng kinh tế nhất trong ngành chăn nuôi heo trên thế giới (Blaha T, 2000). Theo thống kê của Phòng dịch tễ - Cục chăn nuôi Thú y thì lần đầu tiên dịch heo tai xanh bùng phát tại nước ta ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lan nhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc. Trong năm 2007, toàn quốc có 324 xã, phường của 65 huyện, quận thuộc 18 tỉnh, thành phố có dịch.

Số heo mắc bệnh là 70.577 con (chiếm 0,26% tổng đàn, toàn quốc có 26.651 con), số heo chết và phải tiêu huỷ là 20. Dựa theo những sự khác biệt đa dạng về mặt biến thẻ di truyền, vị trí địa lý và theo báo cáo của tổ chức ICTV (International Committee on Taxonomy of Viruses) về phân loại virus thì virus PRRS được chia làm 2 kiểu gene: PRRSV-genotype 1 (EU — European) và PRRSV-genotype 2 (NA — North American). Với sự sở hữu ít nhất 10 khung đọc mở (ORF): ORFla, ORF1b mã hóa cho 8 protein phi cấu trúc, ORF2a, ORF2b, ORF3, ORF4, ORF5a, ORF5, ORF6 và ORF7 (Goua va ctv, 2019) thì trong đó gene ORFS mã hóa cho glycoprotein 5 (GP5) (khoảng 26 kDa) nằm trên vỏ bề mặt của hạt virus đã được sử dụng nghiên cứu cho các phân tích phát sinh loài, bên cạnh đó còn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus vào tế bào vật chủ và có chứa những vùng mang đặc điểm kháng nguyên (epitope) quan trọng có liên quan đến khả năng trung hòa virus của kháng thé (Dea va ctv, 2000). Chính vì lẽ đó gene ORF5 được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phân tích di truyền, miễn dịch trung hòa và sự tiến hóa của các chủng PRRSV.

Theo các nghiên cứu phân tích di truyền gan đây ở Việt Nam cũng như trên thé giới, đã có nhiều nghiên cứu chú trọng tập trung đến việc đánh giá đa dạng di truyền của chủng PRRSV dựa trên gene ORFS và cho thấy sự phức tạp và đa dạng di truyền của các chủng PRRSV tại Việt Nam, với sự xuất hiện của nhiều chủng mới cũng như xuất hiện các nhóm có độc lực khác nhau của virus PRRS (Andreyev và ctv, 1997: Nguyễn Thị Diệu Thúy và ctv, 2013; Đỗ Hải Quynh va ctv, 2016; Xie và ctv, 2020; Nguyễn Ngọc Hải và ctv, 2021). Điều nay ảnh hưởng không ít đến công tác phòng chống bệnh heo tai xanh (PRRS) làm giảm đi hiệu quả của vaccine phòng bệnh, gây khó khăn trong công tác kiểm soát dịch PRRS ở Việt Nam. Xuất phát từ những thực tế trên thì đề tài nghiên cứu: “Phân tích đa dạng di truyền các chủng virus PRRS thuộc genotype 1 (EU — European) gây bệnh heo tai xanh ở Việt Nam” được thực hiện. Mục tiêu đề tài Xác định mối liên hệ di truyền và sự biến đổi các chủng virus PRRS thuộc genotype 1 (EU - European) tại các trang trại heo ở Việt Nam, làm cơ sở cho việc sử dụng vaccine trong công tác phòng chống dịch bệnh heo tai xanh ở Việt Nam.

Nội dung thực hiện Nội dung 1: Thu nhận gene ORFS của chủng PRRSV bằng phương pháp RT- PCR. Nội dung 2: Phân tích đa dạng di truyền, xây dựng cây di truyền, so sánh sự sai khác các đột biến của amino acid trong vùng epitope trung hòa dựa trên gene ORFS của các chủng PRRSV trong nghiên cứu thu nhận tại Việt Nam. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu Bệnh heo tai xanh còn được gọi là hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS).

Heo khi nhiễm phải virus gay bệnh PRRS sẽ có các biểu hiện lâm sang bao gồm suy sinh sản ở heo mẹ, viêm phôi, suy hô hấp ở heo con sau cai sữa và tăng tính nhạy cảm với nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn gây ra. Vào tháng 6 năm 1991, Viện Thú y Trung ương ở Hà Lan đã báo cáo rằng ho phân lập được chủng virus PRRS đầu tiên có tên là Lelystad virus (Wensvoort va ctv, 1991). Ngay sau đó, vào năm 1992 ở Hoa Kỳ cũng đã phân lập được chủng virus PRRS đặt tên là VR2332 (Collins và ctv, 1992). Dựa theo sự khác biệt về địa lý và khác biệt nhau về đa dạng di truyền, theo International Committee on Taxonomy of Viruses (ICTV), virus PRRS được chia 2 thành kiểu gene: PRRSV-type 1 (kiểu gene châu Âu - EU) đại diện là chủng virus Lelystad và PRRSV-type 2 (kiểu gene Bắc Mỹ - NA) đại diện là chủng virus VR2332.

Hai kiểu gene này sự tương đồng về gene dao động từ 52 — 81% (Allende và ctv, 1999: Nelsen và ctv, 1999: Nguyễn Ngọc Hải và Đỗ Tiến Duy, 2023). Virus gầy bệnh heo tai xanh (PRRSV) 2. Cấu trúc của PRRSV PRRSV là một loại virus RNA sợi đơn, thuộc chi Arterivirus, bộ Nidovirales và là thành viên thuộc họ Arteriviridae (Sn1ider và ctv, 2013). PRRSV được chia thành hai kiểu gene, kiểu gene châu Âu hoặc genotype 1, đại diện là virus Lelystad (LV) và kiểu gene Bắc Mỹ hoặc genotype 2 đại điện là virus VR2332 (Meng và ctv, 1995).

Nhiều nghiên cứu ghi nhận cả 2 kiểu gene Bắc Mỹ và châu Âu đều phân bồ trên toàn thế giới (Stadejek va ctv, 2002; Fang và ctv, 2007; Nam va ctv, 2009). RNA bộ gene cua virus được bao bọc bởi các protein nucleocapsid. Nucleocapsid, glycoprotein bề mặt (GP) và protein màng được đưa vào lớp vỏ kép lipid để tạo thành các hạt virion (Fang và ctv, 2010; Lunney và ctv, 2015). PRRSV virion là một hạt dạng hình cầu hoặc hình bầu dục có đường kính 50 — 60 nm (Dokland, 2010).

Theo nghiên cứu của Guo và cộng tác viên, 2019, bộ gene RNA của PRRSV bao gồm ít nhất mười khung đọc mở (ORF): ORF1a, ORF 1b mã hóa cho 8 protein phi cầu trúc, và các ORF2a, ORF2b, ORF3, ORF4, ORF5a, ORF5, ORF6 và ORF7 mã hóa protein cấu trúc. PRRSV có kích thước khoảng 15,4 kb (Conzelmamn và ctv, 1993). Heterodimeric complex required for virion formation and viral infectivity. Link between envelope and nucleocapside.

Mantains the structure of the virion. i GPS Involved in viral attachment SES MsComplex GP2a, GP3, GP4 and E. GP4 Essential for viral infectivity. Involved in attachment internalization E (2b) and decapsidation of the virion.

Important for the viral replication and essential for cellular tropism. ORFSa — probably essential for cellular tropism, replication process and viability of the virion. RNA genome associates with the N protein to form the nucleocapsid. Câu trúc PRRSV.

Nguôn: Phòng thí nghiệm Hipra, SA (2023). Con đường lây nhiễm của PRRSV Virus PRRS tôn tại lâu ở nhiệt độ đông lạnh sâu (-70°C), nhưng ở nhiệt độ 56°C khả năng lây nhiễm của virus sẽ mat đi sau 15 — 20 phút. PRRSV phát triển tốt trên môi trường tế bao đại thực bảo phế nang phổi heo, và một số dòng tế bao thận khi châu Phi (African monkey kidney cell) như dòng tế bào MARC - 145. PRRSV thường gây bệnh tích tế bao sau 1 — 2 ngày nuôi cấy trên tế bào.

Heo nhiễm bệnh là nguồn bài thải virus quan trọng nhất. Virus PRRS có thé truyền lây trực tiếp từ heo mẹ qua thai, đặc biệt nguy hiểm nếu heo nái nhiễm virus PRRS ở giai đoạn sau 2/3 của thai kỳ. Heo con nhiễm virus PRRS trong bụng, khi sinh ra sẽ mang virus trong máu và bài thải virus trong khoảng 3 tháng sau. Heo nái mang trùng là yếu tố quan trọng làm cho bệnh PRRS có thể tái đi tái lại nhiều lần trong trại.

Virus PRRS có thé lây nhiễm vào trong trại thông qua những yếu tố như heo mới nhập dan, tinh dịch, phương tiện vận chuyền, vật dụng chăn nuôi, kỹ thuật viên, người vào thăm viéng trại. Không khí từ trang trại kế cận (đặc biệt quan trọng nếu 4m độ cao, nhiệt độ thấp, thông thoáng kém). Khoảng cách lây nhiễm qua không khí có thể đến 3 km (Nguyễn Ngọc Hải và Đỗ Tiến Duy, 2023). Virus có thể phát tán lây lan thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp.

Hình thức trực tiếp thông qua tiếp xúc với heo bệnh đã nhiễm PRRSV, các nguồn có chứa virus như: phân, nước tiểu, bụi, nước bọt, thụ tinh nhân tạo và có thé do một số loại muỗi, ruồi và vịt trời 14 trung gian truyền bệnh. Đối với hình thức gián tiếp thông qua dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng. Hình thức phát tán qua không khí (từ phân các hạt but chứa virus có thé theo gid đi xa tới 3 km). Cơ chế quan trọng của đường truyền qua vật trung gian chính là thời tiết 4m và lạnh khiến virus có thê tồn tại lâu trong môi trường ngoài ra bệnh cũng có thê được truyền qua các vật trung gian như ủng, quần áo bị nhiễm ban và dùng chung kim tiêm.

Đặc điểm của gene ORF5 ORFS mã hóa glycoprotein (GP5) là một protein sinh miễn dich quan trong và có liên quan đến các phản ứng trung hòa PRRSV (Ostrowski và ctv, 2002; Plagemamn, 2004; Wissink va ctv, 2005). Protein GP5 là một glycoprotein của khoảng 200 amino acid với khối lượng phan tử là 25 kDa. GP5 thường chứa 2 - 4 vị tri glycosyl hóa liên kết N tiềm năng va quá trình glycosyl hóa GP5 có thé là một con đường chính ma qua đó PRRSV có thể né tránh các phản ứng miễn dịch do vaccine gây ra (Gagnon va ctv, 2003, Ansari va ctv, 2006; Vu va ctv, 2011). GP5 cũng là một trong những protein cấu trúc biến đổi nhất của PRRSV (Pirzadeh và ctv, 1998).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ