phần mở đầu, kết luận, các danh mục thì luận văn đƣợc kết cấu gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm điều chỉnh cơ cấu chuyên môn hóa thƣơng mại ngành chế biến của Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Cơ sở lý luận của hoạt động thƣơng mại quốc tế Thƣơng mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đƣa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nƣớc, nó tƣơng đƣơng với một tỷ lệ lớn trong GDP.
Mặc dù thƣơng mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài ngƣời (xem thêm Con đường Tơ lụa và Con đường Hổ phách), tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới đƣợc để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây. Thƣơng mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hƣớng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng cƣờng thƣơng mại quốc tế thƣờng đƣợc xem nhƣ ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá". Các lý thuyết thƣơng mại quốc tế 1.
Mô hình của chủ nghĩa trọng thương Những ngƣời thuộc trƣờng phái trọng thƣơng cho rằng: hoạt động nông nghiệp và công nghiệp không thể là nguồn gốc của mọi của cải (trừ công nghiệp khai thác vàng và bạc), chỉ có hoạt động ngoại thƣơng mới là nguồn gốc thực sự của mọi của cải. Theo những học giả này thì xuất khẩu là hoạt động quan trọng đối với một quốc gia vì nó kích thích sản xuất trong nƣớc phát triển và tạo ra một khối lƣợng lớn sản phẩm quốc gia. Ngƣợc lại, nhập khẩu là “gánh nặng” đối với một quốc gia vì nó làm giảm của cải của quốc gia. Chủ nghĩa trọng thƣơng đánh giá cao vai trò của tiền, cho rằng tiền mới là tiêu chuẩn căn bản của của cải quốc gia, hàng hóa chỉ là phƣơng tiện để tăng thêm tiền.
Từ đó, họ coi những hoạt động nào mang lại tiền tệ cho quốc gia là những hoạt động tích cực (hoạt động ngoại thương) còn hoạt động nào không mang lại lợi ích cho quốc gia là hoạt động tiêu cực. Hạn chế trong lập luận của học thuyết đó là coi vàng bạc nhƣ hình thức của cải duy nhất của quốc gia. Đồng thời, học thuyết này cũng không giải thích đƣợc cơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 cấu hàng hóa trong thƣơng mại quốc tế, chƣa thấy đƣợc lợi ích của chuyên môn hóa trong việc phân công lao động hợp tác quốc tế. Đối với những nƣớc mà khả năng sản xuất trong nƣớc vƣợt quá mức cầu tiêu dùng trong nƣớc thì cần thực hiện chính sách xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Đồng thời, đối với những nƣớc gặp khó khăn trong việc thanh toán quốc tế cũng nên sử dụng chính sách xuất khẩu để bù đắp những thiếu hụt trong cán cân thanh toán. Học thuyết trọng thƣơng cũng có ý nghĩa đối với những quốc gia chƣa có nhu cầu ngoại tệ trong hiện tại thì cũng có thể mong muốn tích lũy ngoại tệ càng nhiều càng tốt để đề phòng những rủi ro trong tƣơng lai. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith A.Smith là ngƣời đầu tiên đƣa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thƣơng. Các nhà kinh tế cổ điển cho đất đai là giới hạn của tăng trƣởng.
Khi nhu cầu lƣơng thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên đất đai cằn cỗi, không đảm bảo đƣợc lợi nhuận cho các nhà tƣ bản thì họ sẽ không sản xuất nữa. Trong điều kiện đó A.Smith cho rằng, có thể giải quyết bằng cách phát triển sản xuất công nghiệp và sử dụng sản phẩm của ngành này xuất khẩu để mua lƣơng thực từ nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, thông qua việc mua bán, trao đổi sản phẩm đã giải quyết đƣợc mặt hạn chế của tăng trƣởng. Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có đƣợc trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nƣớc sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó của nƣớc khác có chi phí sản xuất thấp hơn.
Lợi thế này đƣợc xem xét từ hai phía, đối với nƣớc sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu đƣợc lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trƣờng quốc tế. Còn đối với nƣớc sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có đƣợc sản phẩm mà trong nƣớc không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, ngƣời ta gọi là bù đắp đƣợc sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nƣớc. Ngày nay, đối với các nƣớc đang phát triển việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chƣa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là tƣ liệu sản xuất với chi phí có thể chấp nhận đƣợc. Việc không đủ khả năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 sản xuất ra máy móc thiết bị là khó khăn lớn đối với các nƣớc đang phát triển, đã là nguyên nhân dẫn đến đầu tƣ thấp.
Các khoản tiết kiệm chƣa thể trở thành vốn đầu tƣ chừng nào tƣ liệu sản xuất các doanh nghiệp cần đến chƣa có. Bởi vì đó là các tƣ liệu sản xuất chƣa sản xuất đƣợc trong nƣớc mà phải nhập từ nƣớc ngoài. Khi tiến hành nhập những tƣ liệu sản xuất này, công nhân trong nƣớc bắt đầu học cách sử dụng các máy móc thiết bị mà trƣớc đây họ chƣa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng. Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thƣơng giữa các nƣớc công nghiệp phát triển và các nƣớc đang phát triển thông qua việc bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tƣ liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nƣớc đang phát triển cũng đƣợc đánh giá là lợi thế tuyệt đối.
Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo Phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thƣơng D.Ricardo đã nghiên cứu lợi thế này dƣới góc độ chi phí so sánh để sản xuất ra sản phẩm. Lợi thế so sánh của ngoại thƣơng là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nƣớc thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa với nƣớc khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất ra những hàng hóa. Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá trị thấp hơn một cách tƣơng đối so với quốc gia khác. Cụ thể, quốc gia A sẽ xuất khẩu sản phẩm X khi và chỉ khi: PXA/PXB < PYA/PYB Trong đó: PXA: chi phí lao động để sản xuất một đơn vị hàng hóa X ở quốc gia A PXB: chi phí lao động để sản xuất một đơn vị hàng hóa X ở quốc gia B PYA: chi phí lao động để sản xuất một đơn vị hàng hóa Y ở quốc gia A PYB: chi phí lao động để sản xuất một đơn vị hàng hóa Y ở quốc gia B Nhƣ vậy, quốc gia A sẽ xuất khẩu hàng hóa X và nhập khẩu hàng hóa Y; và ngƣợc lại, quốc gia B sẽ nhập khẩu hàng hóa X và xuất khẩu hàng hóa Y.
Việc lựa chọn một cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nhƣ trên sẽ đảm bảo hai nƣớc đều có lợi trong hoạt động ngoại thƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Ricardo đã đặt nền móng ban đầu cho việc lý giải sự hình thành quan hệ thƣơng mại giữa hai quốc gia, đó chính là sự khác nhau về giá cả sản phẩm tính theo chi phí so sánh. Lý thuyết Heckscher – Ohlin Hai nhà kinh tế ngƣời Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh, đƣợc gọi là lý thuyết Heckscher – Ohlin (H - O). Họ cho rằng chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và mức sử dụng yếu tố để sản xuất sản phẩm là những nhân tố quan trọng quyết định sự khác biệt về chi phí so sánh.
Lý thuyết này đƣợc xây dựng dựa trên hai khái niệm cơ bản là hàm lƣợng các yếu tố (factor intensity) và mức độ dạt dào của các yếu tố (factor abundance). Định lý H – O: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tƣơng đối yếu tố sản xuất của quốc gia đó”. Theo lý thuyết này thì quốc gia A đƣợc coi là dồi dào lao động nếu: LA/KA < LB/KB LA, KA tƣơng ứng là lao động và vốn của nƣớc A LB, KB tƣơng ứng là lao động và vốn của nƣớc B Khi đó, nƣớc A sẽ xuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng nhiều lao động; ngƣợc lại nƣớc B sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn. Cấu trúc cân bằng chung của lý thuyết H – O: “Tất cả các yếu tố quyết định giá của hàng hóa cuối cùng”.
Lý thuyết H – O đã giải thích sự có đƣợc lợi ích trong thƣơng mại quốc tế là do mỗi nƣớc đều hƣớng đến chuyên môn hóa sản xuất vào các ngành sử dụng nhiều yếu tố sẵn có trong nƣớc. Nhƣ vậy, có thể có lợi thế so sánh cho phép bất kỳ nƣớc nào cũng có thể tăng thu nhập của mình thông qua ngoại thƣơng, ngay cả khi một nƣớc sản xuất mọi sản phẩm với chi phí tuyệt đối thấp hơn một nƣớc khác, bởi vì thị trƣờng thế giới tạo ra cơ hội để có thể mua hàng hóa với giá tƣơng đối rẻ hơn so với giá đang đƣợc lƣu hành trong nƣớc, nếu không có ngoại thƣơng. Nội dung này xuất phát từ sự khác nhau về chi phí so sánh để sản xuất sản phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Quy luật lợi thế so sánh Quy luật lợi thế so sánh là quy luật cơ bản của thƣơng mại quốc tế, mang tính khách quan, ổn định và lâu dài. Các giao dịch mang bản chất thƣơng mại diễn ra trên phạm vi quốc tế tuân theo quy luật này. Đây không phải là quy luật cung - cầu, cạnh tranh hay lƣu thông tiền tệ. với tƣ cách là quy luật kinh tế kinh tế nói chung mà nó là quy luật phát huy tác dụng trong các giao dịch thƣơng mại quốc tế.