Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu liên quan chuỗi giá trị nông sản Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về chuỗi giá trị các ngành hàng nói chung và nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phâm nông nghiệp như lúa gạo, cà phê nói riêng. Dưới đây là một số công trình có giá trị tham khảo đối với đề án.
Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Sơn (2011) tiến hành phân tích chuỗi giá trị lua gạo vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong công trình nghiên cứu này, nhóm tác giả đã phân tích “chuỗi giá trị lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long” theo cách tiếp cận tông hợp của Kaplinsky và Morris (2000), Recklies (2001), GTZ ValueLinks (2007) và M4P (2007) cùng với phỏng vấn trực tiếp 564 đại diện các tác nhân tham gia chuỗi và 10 nhóm nông dân trồng lúa thuộc bốn tinh có điện tích và sản lượng lúa cao nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích (1) chuỗi giá trị lúa gạo nội địa và chuỗi giá trị lúa gạo xuất khâu, (2) phân tích kinh tế chuỗi nhấn mạnh phân phối lợi ích, chỉ phí, giá trị gia tăng cũng như tổng lợi nhuận của mỗi tác nhân và toàn chuỗi, (3) phân tích hậu cần, rủi ro và chính sách hỗ trợ có liên quan, (4) phân tích SWOT liên quan đến mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức cũng như xác định các van đề về chất lượng sản pham của chuỗi. Cuối cùng, nghiên cứu còn dé cập đến các chiến lược nâng cấp chuỗi và các giải pháp về chính sách dé tăng giá tri gia tăng, thu nhập và lợi nhuận, lợi thế cạnh tranh cũng như phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo ở ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung.
Điểm thành công nổi bật trong nghiên cứu này là đã áp dụng thành công phương pháp điều tra xã hội học trong việc nghiên cứu các tác nhân tham gia cấu trúc chuỗi giá trị lúa, gạo, từ đó xác định những biện pháp nhằm nâng cấp chuỗi giá trị. Nguyễn Viết Tuân (2012) đã thực hiện nghiên cứu đặc điểm và mối liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá tri sắn ở Thừa Thiên Huế, qua đó, cho thay chuỗi giá trị sắn có cấu trúc 2 - 3 tầng và theo ba kênh chính như sau: (i) khoảng 28% sản phẩm bán qua người thu gom và bán về cho nhà máy, (ii) khoảng 10% sản phẩm người sản xuất bán thắng về nhà máy va (iii) khoảng 60% sản phẩm được người sản xuất tự chế biến sắn lát khô, trong đó khoảng 25% bán cho người thu gom dé xuất sang thị trường Trung Quốc va 35% dùng dé chế biến thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi tại hộ gia đình. Ở đây, tác giải chỉ ra được sự liên kết giữa người sản xuất và nhà máy về bán sản phẩm là không chặt chẽ, không có bat kỳ thỏa thuận hay ràng buộc nào được ký kết. Người nông dân tự do bán sắn cho người thu gom và cho nhà máy hoặc chế biến thành sắn khô khi giá cao.
Từ thực trạng đó, tác giả đã đề xuất 05 giải pháp để tăng sự gắn kết và nhằm nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị sắn ở Thừa Thiên Huế. Hoàng Văn Việt (2014) đã nghiên cứu phân tích lợi ích tài chính của chuỗi giá trị bưởi da xanh tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu thực hiện tại tỉnh Bến Tre và thị trường tiêu thụ bưởi da xanh tại Thành phé Hồ Chí Minh, với mục tiêu phân tích hiện trạng hoạt động của chuỗi giá trị và đánh giá, so sánh hiệu quả kinh doanh bưởi da xanh, từ đó đề xuất các chính sách nhằm phát triển ngành bưởi đa xanh Bến Tre một cách bền vững và gia tăng thu nhập của các tác nhân, đặc biệt là người nông dân. Nghiên cứu sử dụng lý thuyết liên kết chuỗi giá trị của GTZ, kết hợp khung phân tích chuỗi giá trị vì người nghèo của M4P và khung phân tích tài chính chuỗi giá trị của FAO để phân tích mối quan hệ giữa các tác nhân, phân tích chi phí và lợi nhuận, giá tri gia tăng và đóng góp của chuỗi giá trị.
Kết quả phân tích cho thấy chuỗi giá trị bưởi da xanh Bến Tre mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao và thu nhập cho các tác nhân tốt, đặc biệt là người nông dân, và phân bồ lợi nhuận giữa các tác nhân công bằng và hợp lý. Nghiên cứu chỉ ra bưởi da xanh có giá trị kinh tế cao nhưng khó khăn nhất hiện nay là vấn đề sâu bệnh và giống chất lượng không cao. Nguyễn Hữu Tâm và cộng sự (2014) đã nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm ca cao tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu thực hiện theo cách tiếp cận tông hợp của Kaplinsky và Morris (2001), ValueLinks (2007) và nghiên cứu phân tích chuỗi với 4 tác nhân tham gia: (1) Người sản xuất; (2) Thu gom; (3) Chế biến; (4) Thương mại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuỗi giá trị hiện tại có 3 kênh phân phối sản phẩm ca cao chủ yếu là xuất khẩu hạt ra thị trường nước ngoài và 1 kênh tiêu dùng nội địa là kênh phối tiềm năng đối với sản phẩm thuốc lá socola, socola, bột socola. Phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi hiện theo hướng có lợi cho người trồng, cho công ty chế biến và xuất khâu. Tuy nhiên, vẫn có những điểm để cải thiện hiện trạng phân phối thu nhập này giữa các tác nhân theo hướng gia tăng lợi nhuận cho toàn chuỗi cần thực hiện 6 nhóm giải pháp được sau đây: Nâng cao năng suất và chất lượng ca cao; Day mạnh phát triển sản phẩm chuỗi giá trị thuốc lá ca cao, socola, bột ca cao; Xây dựng nối kết thị trường giữa các nhà cung cap vật tư nông nghiệp và các tổ chức nông dân; Thành lập hoặc cũng có các tô chức nông dân; Tận dụng nguồn hỗ trợ của dự án và địa phương để nâng cao năng lực cho người trồng, tiêu thụ và chế biến ca cao; Tăng cường vốn cho các tác nhân trong chuỗi. Phan Thị Thanh Trúc, Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2016), đã phân tích mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phâm cà phê khu vực Tây Nguyên.
Trong công trình nghiên cứu, nhóm tác giả tập trung đánh giá mối liên kết ngang và dọc trong chuỗi giá trị cà phê trên khu vực Tây Nguyên bằng các phương pháp điều tra khảo sát với 157 hộ nông dân, phỏng van 48 thương lái thu mua, 35 cơ sở sơ chế và 19 doanh nghiệp chế biến dựa trên phân tích chuỗi giá trị M4P. Kết quả khảo sát được nhóm tác giả phân tích và mô hình hoá rất cụ thể trong bài theo từng tác nhân trong chuỗi giá trị và mối liên kết giữa các tác nhân đó. Trước thực trạng là mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê khu vực Tây Nguyên còn lỏng lẻo, nhóm tác gia đã đề xuất 03 giải pháp dé khắc phục van dé này. Đoàn Hữu Hoà (2017), đã nghiên cứu chuỗi giá trị cà phê trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Luận văn có kết cấu 3 chương gồm (1) Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị; (2) Thực trạng chuỗi giá trị cà phê tại tỉnh Kon Tum; (3) Giải pháp hoàn thiện chuỗi giá trị cà phê tại tỉnh Kon Tum. Với kết cấu như vậy, luận văn đã đảm bảo việc hệ thông hoá cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị cà phê. Bên cạnh đó, luận văn phân tích rat chi tiết về thực trạng chuỗi giá trị cà phê tại tỉnh Kon Tum trong 4 năm từ 2012 đến 2015 và đưa ra được đánh giá với từng tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Qua những đánh giá này, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp gắn với từng tác nhân của chuỗi.
Tuy nhiên, những giải pháp mà tác giả đề xuất vẫn còn chung chung, chưa thực sự có giá trị thực tiễn dé giải quyết được những van đề còn tồn tại trong chuỗi giá trị cà phê của tỉnh Kon Tum. Có thể nói rằng, đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách ở tầm quốc gia và các địa phương cấp tỉnh, các nhà doanh nghiệp. vẫn đề tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cấp chuỗi giá trị để tăng giá trị tăng thêm cho các mặt hàng nông sản ngày càng quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện hơn. Tại Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu về van dé này, có thé dẫn ra thêm như “Chuỗi giá trị táo, nho, tỏi - tỉnh Ninh Thuận”, “Chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long”; “Chuỗi gia tri Cao su - tỉnh Quang Bình”; “Chuỗi giá trị ngành mía đường Việt Nam”.
Các nghiên cứu này đã cung cấp một lượng kiến thức và kỹ năng khá lớn trong việc nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị bưởi tại huyện Thoại Sơn của tác giả. Đánh giá đúc kết tông quan tài liệu nghiên cứu Qua nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoải nước có liên quan đã được trích dẫn nêu trên tác giả đã rút ra những nội dung cần thiết để có thê thừa kế mang đầy đủ cơ sở và tính khoa học nhằm tiếp tục nghiên cứu cho đề tài của mình như sau: Hầu như các nghiên cứu đều có sử dụng mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter để xây dựng chuỗi giá trị nghiên cứu cho đề tài của mình phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh tại địa phương. Các tác nhân hoạt động trong chuỗi giá trị có thé khác nhau về số lượng tùy theo điều kiện sản xuất kinh doanh cu thé. Các tác nhân hoạt động trong chuỗi giá tri có thé khác nhau do mục tiêu sản xuất kinh doanh khác nhau, ví dụ như chuỗi giá trị nông sản tiêu thụ nội địa sẽ khác với chuỗi giá trị nông sản xuất khâu.
Khi phân tích chuỗi giá trị thì các nghiên cứu trước thường sử dụng ba loại phân tích như sau: Phân tích liên kết chuỗi bao gồm cả liên kết ngang và liên kết dọc; Phân tích kinh tế chuỗi bao gồm các chỉ tiêu về chỉ phí, lợi nhuận, thu nhập doanh thu và giá trị gia tăng cho từng tác nhân hoạt động trong chuỗi giá trị; Phân tích các hoạt động hỗ trợ của tác nhân hỗ trợ bao gồm các hoạt động giúp đỡ của các cơ quan chính quyền, các cơ quan chức năng chuyên môn.