chương 1 luận văn này, tác giả sẽ trình bày xúc tích những khái niệm, quan điểm có liên quan làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu những tính chất đặt thù của một chuỗi cung ứng.1 CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Thập niên 1980, mức độ cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ngày càng gay gắt buộc các nhà sản xuất phải xem lại quy trình sản xuất và cung ứng của mình nhằm mục đích cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Họ đã bắt đầu nhận thấy được giữa nhà cung cấp - người mua - khách hàng có mối quan hệ liên quan đến nhau và chúng tạo thành một chuỗi liên kết ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của họ. Năm 1982 thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng “ Supply chain management” xuất hiện lần đầu tiên và người sử dụng là ông Keith Oliver, một chuyên gia tư vấn ở Booz Allen Hamilton, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Financial Times. Cho thấy được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng và là khởi đầu cho những nghiên cứu tiếp theo về chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay, mức độ yêu cầu về sản phẩm của khách hàng ngày càng cao, như phải có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng cao, an toàn, thân thiện với môi trường, giá cả hợp lý. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày, tạo điều kiện thuận lợi để tạo ra nhiều sản phẩm, đó cũng là nguyên nhân ngày càng có nhiều doanh nghiệp ra đời. Nhưng để tồn tại bền vững trong môi trường kinh doanh hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải có một kế hoạch 12 chiến lược sản xuất phù hợp, phải giải quyết được bài toán tối ưu về lợi nhuận từ nguồn đầu vào cũng như đầu ra của sản phẩm. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải tập trung vào việc xây dựng phát triển chuỗi cung ứng, có thể nói việc canh tranh giữa các doanh nghiệp là sự cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng điển hình bao gồm sản phẩm đầu vào có thể do một hoặc nhiều nhà cung cấp, được sản xuất qua một hay nhiều giai đoạn, do một hay nhiều nhà máy sản xuất, được vận chuyển, lưu kho ở giai đoạn trung gian, đến nhà phân phối, nhà bán lẻ, cuối cùng là đến tay người tiêu dùng. Nhận thấy được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng được ra đời như H.Lee và cộng sự (1995), đã định nghĩa “chuỗi cung ứng là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối”. Hay Lambert và cộng sự cho rằng (1998), “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường”. Còn Mentzer và cộng sự (2001), đã định nghĩa “Chuỗi cung ứng là tập hợp của ba hay nhiều hơn có liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng”.
Theo Chopra và Meidl (2007), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Hay hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vị liên quan đến quá trình kinh doanh”. Thuật ngữ “Chuỗi cung ứng” tuy mới xuất hiện nhưng đã nhanh chóng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, các doanh nghiệp.
Hiện nay việc quản lý chuỗi cung ứng còn được xem là sự sống còn của doanh nghiệp. Theo thời gian, định nghĩa về chuỗi cung ứng đã dần hoàn thiện, bắt đầu từ việc hiểu chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty, kế tiếp là những tập hợp liên quan đến 13 dòng chảy, tiến dần đến tất cả các mắc xích trong chuỗi không nằm ngoài mục đích đáp ứng sự mong đợi của khách hàng. Như vậy, chuỗi cung ứng có thể xem như là một quá trình di chuyển các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp thông qua việc lưu trữ và vận chuyển đi đến nhà sản xuất rồi lại từ nhà sản xuất biến đổi các yếu tố đầu vào đó thành yếu tố đầu ra của sản phẩm di chuyển và lưu trữ chúng tới nhà phân phối và cuối cùng là đến tay người tiêu dùng cuối cùng.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Trong quá trình sản xuất cần phải có những hoạch định như tìm nguồn sản phẩm đầu vào (nhà cung cấp), đến khâu sản xuất (nhà sản xuất), bảo quản, phân phối sản phẩm và cuối cùng là khâu tiêu thụ (người tiêu dùng). Vì vậy để cho chuỗi cung ứng hoạt động tốt cần phải quản lý chuỗi cung ứng sao cho hoạt động đạt hiệu quả tối ưu, có nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng như: Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ bên trên và bên dưới, với các nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp cho khách hàng giá trị cao nhất với chi phí thấp nhất tính cho tổng thể chuỗi cung ứng (Martin Chiristopher, 1992).
Quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc thực hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung nói chung (Menter và cộng sự, 2001). Hau Lee và Corey Billington (1995) cho rằng “Quản trị chuỗi cung ứng như là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối”. Tóm lại, luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của Michael Hugos “quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định và quản lý mọi hoạt động liên quan đến nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà vận chuyển, nhà phân phối, nhà bán lẻ, lưu kho, 14 cuối cùng sản phẩm được mang đến thị trường mục tiêu, sao cho đạt được sự kết hợp tiện ích và mang lại hiệu quả tối ưu”[26, tr.3 Sự tích hợp giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị Chuỗi cung ứng là một phân đoạn trong chuỗi giá trị, biểu thị mức độ hiệu quả trong hoạt động, hợp tác của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị là bao gồm các hoạt động kinh doanh có quan hệ với nhau bắt đầu từ việc cung cấp các yếu tố đầu vào cụ thể để sản xuất ra một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Hay nói cách khác chuỗi giá trị là một loạt các quá trình trong đó các doanh nghiệp liên kết với nhau bằng việc hợp tác, trao đổi, buôn bán trong kinh doanh, trong đó theo trình tự từ nguyên liệu đầu vào cụ thể được sơ chế ban đầu, qua các giao dịch sản xuất kinh doanh và cuối cùng là đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Thuật ngữ chuỗi cung ứng theo thời gian đã không ngừng phát triển, từ những định nghĩa cơ bản chỉ là nguồn sản phẩm đầu vào có thể do một hoặc nhiều nhà cung cấp, được sản xuất qua một hay nhiều giai đoạn, do một hay nhiều nhà máy sản xuất, được vận chuyển, ưu kho ở giai đoạn trung gian, đến nhà phân phối, nhà bán lẻ, cuối cùng là đến tay người tiêu dùng. Ngày nay mục tiêu chuỗi cung ứng là phải biến đổi linh hoạt tập trung vào việc đáp ứng sự mong đợi của khách hàng, phát triển theo hướng đồng bộ hóa dòng giá trị và dòng cung ứng. Chính vì sự phát triển không ngừng của thuật ngữ chuỗi cung ứng đã rút ngắn khoảng cách và tạo nên sự tương đồng giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị, chứ không còn là một phần của chuỗi giá trị nữa, cụ thể như sau: - Cả hai đều thể hiện chiến lược phát triển hay mở rộng sản xuất kinh doanh với nhiều hình thức liên kết các doanh nghiệp theo phương hướng vận hành nhất định của dòng sản phẩm, hay dịch vụ.
- Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đều kết nối các doanh nghiệp, tạo nên mạng lưới tương tác với nhau để cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên một chuỗi giá trị đạt hiệu quả khi kết hợp những mong đợi của khách hàng (chuỗi nhu cầu) với những gì cần sản xuất (chuỗi cung ứng). Trong khi 15 chuỗi cung ứng tập trung vào giảm chi phí sản xuất, tạo nên hiệu quả tối ưu thì chuỗi giá trị cần phải tập trung vào việc cải thiện quá trình sản xuất, phát triển sản phẩm, tăng cường hoạt động marketing. Trong môi trường kinh tế cạnh tranh khóc liệt hiện nay, nhu cầu của thị trường thay đổi nhanh chóng, các đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh, cần phải đồng bộ hóa dòng giá trị và dòng cung ứng để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, tiến tới đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất.4 Mục tiêu của chuỗi cung ứng Mỗi chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các bộ phận liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm những nhà sản xuất, nhà cung cấp, mà còn bao gồm những nhà cung ứng vận tải, kho bãi, nhà bán lẻ, thậm chí cả khách hàng. Mục tiêu của mọi hoạt động chuỗi cung ứng chính là tối đa hóa giá trị tổng thể của chuỗi. Giá trị tổng thể của chuỗi được tạo ra từ sự khác biệt giữa sản phẩm cuối cùng mà khách hàng nhận được và chi phí của chuỗi để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Giá trị của chuỗi cung ứng = Giá trị của khách hàng – Chi phí chuỗi cung ứng - Giá trị liên quan khả năng sinh lợi của chuỗi cung ứng (được coi như giá trị thặng dư của chuỗi cung ứng), đó là sự khác biệt giữa lợi nhuận được tạo ra từ khách hàng và tổng chi phí chuỗi.
- Sự thành công của chuỗi cung ứng được đo lường bằng khả năng sinh lợi của toàn bộ chuỗi.