Chương 1 Tiếp cận phương pháp phân tích chi phí - lợi ích Mở rộng cho hoạt động sản xuất giấy I. Cơ sở lý luận về phân tích chi phí lợi ích mở rộng Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng ( Cost benefit analysis - viết tắt là CBA) là một công cụ của chính sách, là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phương pháp CBA sẽ làm phép so sánh những lợi ích thu về do các hoạt động phát triển đem lại với những chi phí và tổn thất do việc thực hiện chúng gây ra.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Sự phát triển của CBA và mục đích của việc sử dụng CBA.1 Sự phát triển của CBA Khái niệm CBA được đưa ra lần đầu tiên vào giữa thế kỉ XIX nhưng phải đến gần 100 năm sau người ta mới thực sự quan tâm và đưa vào sử dụng. Cách nhìn nhận của CBA là "toàn cục", không phản ánh lợi ích của bất cứ cá nhân, tổ chức hay nhóm nào.
Chính vì vậy mà công cụ CBA ngày càng trở nên phổ biến và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. CBA có thể được dùng cho các chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án cũng có thể dùng rộng rãi trong các vấn đề như thị trường lao động, giáo dục, nghiên cứu khoa học và môi trường đặc biệt CBA là công cụ hiệu lực đối với đánh giá tác động môi trường cho dự án phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, đối với các dự án môi trường thì việc lượng hoá được những chi phí, lợi ích là rất phức tạp, không dễ gì thấy được và thời gian tác động là bao lâu. chính vì vậy việc đo lường để lượng hoá kết quả là không đơn giản, thậm chí không có một thước đo chung, hay một phương pháp chung phục vụ cho việc tính toán.
Nhưng CBA là kỹ thuật cho phép liệt kê tất cả các điểm được và mất một cách hệ thống, cố gắng tiền tệ hoá cái được và cái mất đối với môi trường, cân nhắc tầm quan trọng của chúng nếu phù hợp, thể hiện sự phân phối của cái được và cái mất giữa các nhóm người như thấy rõ trong tranh cãi môi trường và đánh giá môi trường. Đối với các nước đang phát triển, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên là biện pháp quan trọng, phổ biến để phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy phương pháp CBA rất phù hợp trong điều kiện thực tế của các nước này.2 Mục đích của việc sử dụng CBA Đối với các nhà hoạch định chính sách, CBA là công cụ thiết thực hỗ trợ cho việc ra quyết định có tính xã hội, từ đó quyết định phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, tránh gây ra thất bại thị trường (tức là giá cả hàng hoá không phản ánh đúng giá trị của nó) có thể xảy ra thông qua sự can thiệp hiệu quả của Nhà nước. Phương pháp CBA có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể ở giai đoạn hình thành (exante), giai đoạn giữa (immedias- res) hoặc giai đoạn cuối (exposte) của dự án.
Chính nhờ quan điểm tiếp cận phong phú này sẽ cung cấp cho chúng ta những góc nhìn khác nhau. Từ đó sẽ cung cấp cho chúng ta một lượng thông tin cơ bản về toàn bộ dự án, hay những bài học kinh nghiệm rút ra khi tiến hành một dự án tương tự. Muốn đưa ra được phương án đem lại hiệu quả cao nhất trong hàng loạt các phương án đề xuất thì cần phải có một căn cứ, cơ sở nào đó dùng để so sánh. Phương pháp CBA sẽ cho chúng ta hình dung ra được toàn bộ những chi phí cũng như lợi ích mà mỗi phương án đưa ra có thể đem lại, và dựa trên kết quả phân tích đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp với mục tiêu đề ra.
Kết quả của sự lựa chọn này sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn. Đây là một công cụ thực sự có hiệu lực thuyết phục khi đưa ra một quyết định. Tuy nhiên không nên chỉ dựa vào CBA mà đi đến một quyết định vì CBA cũng còn có những hạn chế chưa khắc phục được, do đó nó chỉ là một phương pháp hữu hiệu trong số các phương pháp hoạch định chính sách và ra quyết định.2 Phân tích kinh tế và phân tích tài chính Phân tích kinh tế và phân tích tài chính đều là phân tích chi phí lợi ích, tuy nhiên hai khái niệm này không đồng nhất với nhau. Tại sao lại như vậy? Câu trả lời cuối cùng là ở mục đích của người sử dụng.
Dưới góc độ của nhà đầu tư, thì người ta sử dụng phương pháp phân tích tài chính vì mục tiêu cuối cùng họ muốn đạt được đó là tối đa hoá lợi nhuận (là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí). Để đạt được điều đó thì họ phải giảm đến mức tối thiểu chi phí sản xuất. Và như vậy, một cách vô tình hay cố tình, họ đã quên đi khoản chi phí đầu tư cho xử lý môi trường mà đáng lẽ họ phải trả. Dưới góc độ quản lý vĩ mô, hoạt động sản xuất là nhằm đảm bảo phát triển bền vững có nghĩa là đảm bảo phát triển đồng đều cả 3 cực: kinh tế - xã hội - môi trường.
Chính vì vậy mà phương pháp phân tích kinh tế được sử dụng, nói bao hàm rộng hơn, đây là phương pháp phân tích kinh tế - tài chính có tính đến yếu tố môi trường.1 Phân tích tài chính Phân tích tài chính dựa trên phân tích quá trình lưu chuyển dòng tiền tệ trong đời dự án mà khi thực hiện dự án đó có thể xảy ra. Trong phân tích tài chính người ta tập trung chủ yếu vào việc phân tích giá cả thị trường và các dòng lưu thông tiền tệ. Mục đích đạt tới là phải tối đa hoá lợi nhuận, khả năng sinh lời về mặt tài chính càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Ví dụ việc phân tích tài chính của dự án đầu tư công nghệ sản xuất mới của nhà máy giấy.
Doanh thu và chi phí là 2 yếu tố cùng quyết định lợi nhuận. Vì yếu tố giá cả là do thị trường quyết định nên doanh thu biên đối với mỗi tấn giấy là như nhau, do đó đường doanh thu biên biểu diễn trên đồ thị sẽ là một đường thẳng nằm ngang. - Chi phí được chia ra làm 2 loại: chi phí cố định và chi phí biến đổi. + Chi phí cố định: Là chi phí mà nhà máy phải trả cả trước khi sản xuất và không đổi khi sản lượng thay đổi.
+ Chi phí biến đổi liên quan đến các khoản mục cần phải mua ngay khi sản xuất như tre nứa, hoá chất, lao động. do đó chi phí này biến đổi cùng với sự biến đổi của sản lượng. Sự biến đổi này được thể hiện rõ trên đường chi phí cận biên (tức biến phí của mỗi tấn giấy được sản xuất ra) - MVC (marginal vary cost) hay MC. + Lợi ích cận biên cá nhân (MNPB = MR - MC ) là lợi nhuận hoạt động mà nhà máy thu được từ doanh thu biên sau khi đã trừ đi chi phí biến đổi cận biên.
P (giá 1 tấn MC giấy) O1 A MR O Q1 Q (tấn giấy) Hình 1: Thu nhập và chi phí cho mỗi tấn giấy : Lợi nhuận biên (= MR - MC), lợi nhuận thu về trên mỗi tấn giấy cho tới điểm Q1. : Số tiền bị lỗ (= MC - MR) khi sản xuất thêm một tấn giấy khi qua khỏi điểm Q1 O1 : Điểm hoà vốn (MR = MC), Q1 Là mức sản lượng tối ưu cho thị trường. AO1Q1O = tổng doanh thu của nhà máy khi bán Q1 tấn giấy. O1Q1O = Tổng chi phí mà nhà máy bỏ ra để sản xuất Q1 tấn giấy Như vậy, lợi nhuận hoạt động của nhà máy là toàn bộ diện tích tam giác AO1O.
Và sự chênh lệch giữa MR và MC tạo cho nhà sản xuất đường lợi ích cận biên cá nhân MNPB, và nhà máy sẽ chỉ sản xuất khi MR > MC. P (giá 1 tấn giấy) A MNPB O Q1 Q (tấn giấy) Hình 2: Đường lợi ích cận biên của cá nhân (MNPB) Như vậy, nhà máy sẽ sản xuất ra từng đơn vị sản phẩm khi nào mà doanh thu cận biên còn cao hơn chi phí biên để sản xuất ra đơn vị sản phẩm đó. Tức là mở rộng sản xuất tới mức Q1 trong hình 1. Và để có thể duy trì việc kinh doanh lâu dài, tổng lợi nhuận ở điểm Q 1 (diện tích tam giác AOQ1 = diện tích tam giác OAO1 ở hình 1) nhất phải bằng những khoản chi phí cố định như chi phí nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị.
Tuy nhiên điều chúng ta quan tâm ở đây đó là các khoản chi phí của nhà máy chưa hề tính đến yếu tố môi trường trong đó. Bởi vì, khi sản lượng tăng lên tổng lượng chất ô nhiễm phát thải tăng lên.Trong chi phí sản xuất của mỗi tấn giấy sản xuất ra ở đây chỉ phản ánh số tiền mà nhà máy phải trả cho việc mua nguyên liệu (tre, nứa, bột giấy), hoá chất, thuê nhân công, duy trì máy móc. không hề có khoản chi phí cho giảm thiểu ô nhiễm mà nhà máy gây ra trong quá trình sản xuất. Do đó, giá của sản phẩm không phản ánh đúng giá trị của nó.2 Phân tích chi phí lợi ích mở rộng (Phân tích kinh tế - tài chính) CBA mở rộng bao gồm phân tích chi phí, lợi ích cả của những tác động mà dự án phát triển gây ra cho môi trường, mà không được tính đến trong phân tích tài chính của dự án.
Giả sử, như trong trường hợp hoạt động sản xuất của nhà máy giấy trên, trong điều kiện môi trường cạnh tranh hoàn hảo (tức là nhà máy có khả năng bán tất cả sản lượng tại mức giá thị trường đang thịnh hành) ta thấy rõ rằng sự tổn hại môi trường không ảnh hưởng đến nhà máy gây ô nhiễm trên (nghĩa là chi phí tổn hại không phải là chi phí nội sinh được phản ánh trong chi phí biến đổi của nhà máy) nhưng lại ảnh hưởng đến toàn xã hội. Vì trên thực tế, lượng nước thải ô nhiễm rất lớn mà nhà máy thải ra là yếu tố gây tác động tiêu cực đến sức khoẻ của công nhân cũng như dân cư quanh khu vực nhà máy, đến mùa màng, năng suất cây trồng, vật nuôi.