CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan bồn trũng Cửu Long 1.1 Lịch sử phát triển bồn trũng Cửu Long Trên bình đồ kiến tạo khu vực hiện tại, bể Cửu Long nằm về phía nam của phần đông nam mảng Âu-Á. Đây là bể trầm tích kiểu tách giãn (rift) phát triển miền vỏ lục địa có tuổi trước Đệ Tam bị thoái hóa mạnh trong thời kỳ Paleogen và chuyển sang chế độ rìa lục địa thụ động như ngày nay bắt đầu từ thời kỳ Neogen (hình 1.1 Sơ đồ vị trí kiến tạo của bể Cửu Long trong bình đồ kiến tạo khu vực Đông Nam Á [2] Lịch sử phát triển địa chất của bể có thể chia ra 3 thời kỳ: 1) Trước tạo rift (Prerift): thành tạo phức hệ móng trước Đệ Tam; 2) Đồng tạo rift (Syn-rift) trong Paleogen đến đầu Neogen thành tạo các trầm tích của tập F(?)/E, D, C và BI; Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 18 3) Sau tạo rift: từ Neogen đến hiện nay, thành tạo các trầm tích tập B2, B3 và A Thời kỳ trước tạo rift: Thời kỳ Jura sớm-giữa, vùng nghiên cứu thuộc phần đông nam của bồn tạo núi Jura sớm-giữa. Lấp đầy bể này là các thành tạo trầm tích lục nguyên, lục nguyên-carbonat. Đến Mesozoic muộn, khu vực bể Cửu Long thuộc bối cảnh kiến tạo rìa lục địa tích cực do sự hút chìm của mảng Thái Bình Dương xuống dưới mảng Indosini (Hình 1.2 Sơ đồ địa chất đới Đà Lạt thể hiện sự phân bố của các phức hệ Granitoid Định Quán, Cà Ná (Ankroet), Đèo Cả [2] Quá trình hút chìm gây nên các hoạt động magma xâm nhập và phun trào hình thành cung núi lửa pluton.
Các loại đá magma có tuổi Jura-Creta phát triển Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 19 rộng rãi ở khu vực đới Đà Lạt và vùng lân cận như đã gặp tại các vết lộ trên đất liền cũng như trong các giếng khoan ngoài khơi thuộc bể Cửu Long là kết quả của hoạt động kiến tạo này. Phổ biến là các đá diorite, granodiorite, granite thuộc phức hệ Định Quán, Đèo Cả, Ankroet (Cà Ná) và các đá magma phun trào andezite, riolite. thuộc các hệ tầng Đèo Bảo Lộc, Nha Trang, Đơn Dương tương ứng. Thời kỳ đồng tạo rift: Vào cuối Creta đầu Paleogen, hoạt động nâng và bào mòn trải rộng trên toàn khu vực, tạo ra sự phá hủy mạnh mẽ các đá granite tuổi Mesozoic muộn, một trong những đối tượng chứa dầu khí chính trong khu vực.
Vỏ lục địa vừa được cố kết bắt đầu bị phá vỡ thành các khối nâng và vùng sụt do tách giãn. Bể Cửu Long được hình thành trên các vùng sụt khu vực thuộc thời kỳ Paleoxen - Eoxen. Cuối thời kỳ này là quá trình hình thành trầm tích tập F lấp đầy các trũng ở một số khu vực trong bể Cửu Long.3 Sơ đồ minh họa các hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á thời kỳ cuối Eoxen đầu Oligocene. Khu vực nghiên cứu đang ở chế độ kiến tạo tách giãn [2] Hoạt động đứt gãy - kiến tạo từ Eoxen đến Oligocene có liên quan đến quá trình tách giãn (hình 1.3) đã tạo nên các khối đứt gãy và các trũng ở bể Cửu Long.
Các đứt gãy nói chung có phương Đông Tây, Đông Bắc - Tây Nam và Bắc Nam. Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 20 Thời kỳ đồng tách giãn đã tạo nên các bán địa hào được lấp đầy bởi các trầm tích của tập E có tuổi Eoxen – Oligocene sớm. Trong giai đoạn đầu, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích ít, điều kiện khí hậu thuận lợi đã tạo nên hồ sâu với sự tích tụ các tầng trầm tích sét hồ dày trên diện rộng (trầm tích của tập E). Quá trình tách giãn tiếp tục mở rộng bể và gia tăng độ sâu hình thành nên những hồ lớn trong đó lắng đọng chủ yếu sét đầm hồ của tập D, tiếp sau đó là các trầm tích nhiều cát hơn lắng đọng trong môi trường sông, hồ, delta của tập C sau đó đánh dấu giai đoạn lấp đầy bể rift.
Trầm tích Eoxen-Oligocene trong các trũng chính có thể dày đến 5000m. Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và bất chỉnh hợp ở nóc trầm tích Oligocene đánh dấu sự kết thúc thời kỳ này. Bắt đầu từ Miocene sớm quá trình tách giãn giảm dần, chỉ có các hoạt động yếu ớt của các đứt gãy (thể hiện ở lô 16-2). Giai đoạn biển tiến khu vực bắt đầu xuất hiện (thành tạo trầm tích tập B.
Vào cuối Miocene sớm, các trũng trung tâm tiếp tục sụt lún phần lớn diện tích bể bị chìm sâu dưới mực nước biển, và tầng sét rotalite - tầng chắn khu vực của bể - được hình thành vào thời gian này. Các trầm tích Miocene dưới phủ chờm hầu hết lên địa hìnhOligocene.[2] Thời kỳ sau tạo rift: Thời kỳ Miocene giữa là thời kỳ nâng lên của bể Cửu Long, môi trường biển ảnh hưởng ít hơn, phần Đông Bắc bể chủ yếu chịu ảnh hưởng của các điều kiện ven bờ. Thời kỳ Miocene muộn, biển tràn ngập toàn bộ bể Cửu Long. Cũng vào cuối thời kỳ này, do sông Mê Kông đổ vào bể Cửu Long đã làm thay đổi môi trường trầm tích, nguồn cung cấp vật liệu, kiểu tích tụ và cả hình thái cấu trúc của bể.
Bồn trũng mở rộng hơn về phía Tây Nam, vào phía đồng bằng châu thổ sông Mê Kông ngày nay và thông với bể Nam Côn Sơn. Trầm tích châu thổ được hình thành do sông là chủ yếu. Thời kỳ Plioxen - Đệ Tứ, là giai đoạn tích cực kiến tạo mới tạo nên bình đồ cấu trúc hiện tại của thềm lục địa Việt Nam. Bể Cửu Long không còn hình dáng cấu trúc riêng mà hoà chung vào cấu trúc toàn thềm.
Nguyên nhân là đáy biển Đông tiếp tục sụt lún do bị cuốn hút xuống dưới cung đảo Luson, mặt khác, đất liền Đông Dương được nâng cao cùng với sự hoạt động của núi lửa basalt kiềm, do vỏ đại dương Ấn Độ đang đẩy lục địa Đông Dương và Tây Nam Đông Nam Á lên cao. [2] Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 21 1.2 Đặc điểm địa chất bồn trũng Cửu Long 1.1 Đặc điểm địa tầng Các thành hệ địa chất bồn trũng Cửu Long được chia ra hai phần: Đá móng trước Kainozoi và lớp phủ trầm tích Kainozoi (hình 1.4 Cột địa tầng tổng hợp bồn trũng Cửu Long [2] 1.2 Móng trước Kainozoi Thành phần thạch học của Đá móng ở bồn trũng Cửu Long gặp phổ biến là các magma xâm nhập granite, granodiorite và diorite. Ngoài ra, còn có thể gặp các đá phun trào, biến chất và trầm tích có tuổi trước Kainozoi như đã lộ ra trên đới Đà Lạt và vùng phụ cận. Các đá này thuộc một số phức hệ như sau: Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 22 Phức hệ Hòn Khoai: phân bố phía Bắc mỏ Bạch Hổ và dự đoán có khả năng phân bố rộng rãi ở rìa Đông Nam của gờ nâng trung tâm.
Thành phần thạch học bao gồm granodiorite biotite, monzodiorite và một ít granite biotite. Phức hệ Định Quán: phân bố rộng rãi ở khu vực trung tâm mỏ Bạch Hổ và có khả năng phân bố ở địa hình nâng cao nhất thuộc gờ nâng trung tâm của bồn trũng Cửu Long. Các phức hệ có sự phân dị chuyển tiếp thành phần từ diorite – diorite thạch anh tới granodiorite và granite, trong đó các đá có thành phần là granodiorite chiếm phần lớn khối lượng của phức hệ. Phức hệ Cà Ná: cũng tương tự như phức hệ Định Quán, phân bố rộng rãi ở gờ trung tâm và sườn Tây Bắc của gờ.
Thành phần thạch học bao gồm: granite sáng màu, granite hai mica, granite biotite và một ít sienite. Do các hoạt động kiến tạo mạnh mẽ trước và trong Kainozoi, các cấu tạo bị phá huỷ bởi các đứt gãy, kèm theo nứt nẻ, đồng thời các hoạt động phun trào andesite, basalt đưa lên lấp vào một số đứt gãy, nứt nẻ. Tuỳ theo các khu vực các đá khác nhau mà chúng bị nứt nẻ, phong hoá ở các mức độ khác nhau. Đá móng bị biến đổi bởi quá trình biến đổi thứ sinh ở những mức độ khác nhau.
Trong một số những khoáng vật biến đổi thứ sinh thì phát triển nhất là cancite, nhóm zeolite và kaolinite. Tuổi tuyệt đối của Đá móng kết tinh thay đổi từ 245 triệu năm đến 89 triệu năm. Granite tuổi Kreta có hang hốc và nứt nẻ cao, góp phần thuận lợi cho việc dịch chuyển và tích tụ dầu trong Đá móng.3 Các thành tạo Kainozoi Lớp phủ trầm tích Kainozoi là tập hợp trầm tích lục nguyên tướng châu thổ, ven biển. Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi, bao gồm các trầm tích có tuổi từ Eocene tới Đệ Tứ và được mô tả theo thứ tự từ dưới lên (từ cổ đến trẻ) như sau: Hệ tầng Cà Cối (E23cc) - Eocene Hệ tầng được phát hiện và đặt tên tại giếng khoan CL-1X thuộc vùng Cà Cối, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh ở độ sâu từ 1,220 - 2,100 m.
Trầm tích của hệ tầng bao gồm các đá vụn thô màu xám trắng, nâu đỏ, đỏ tím Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Mạnh Tuấn MSHV: 1770514 Trang 23 và cuội kết, sạn kết, sỏi, cát kết hạt trung thô đến rất thô chứa cuội sạn, đôi khi xen lẫn với các tập sét kết dày. Cuội có kích thước lớn, thành phần chính là các đá phun trào (andesite, tuff andesite, dacite, rhyolite), các đá biến chất (quartzite, đá phiến mica), đá vôi và một ít mảnh granitoid, gabbro, màu đen nâu đến đỏ thẫm. Đây là các trầm tích được thành tạo trong môi trường lục địa như lũ tích, sườn tích, bồi tích (deluvi, proluvi, aluvi…), bị xói mòn từ địa hình núi tại nơi bắt đầu thành tạo lớp phủ trầm tích, đôi chỗ trầm tích rất gần với nguồn vật liệu cung cấp nên có độ chọn lọc và độ mài tròn kém. Trầm tích được tích tụ trong điều kiện dòng chảy mạnh, nghèo hoá thạch.
Theo tài liệu địa chấn, mặt cắt của hệ tầng được xếp tương ứng với tập CL7 và trầm tích của hệ tầng Cà Cối phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo trước Kainozoi. Chiều dày của hệ tầng có thể đạt tới 600 m. Tuổi Eocene của hệ tầng Cà Cối được xác định bởi các hóa thạch bào tử phấn đặc trưng như: Klukisporires, Triporopollenites, Trudopollis, Plicapolis, Jussiena, v. [2] Hệ tầng Trà Cú (E31tc) – Oligocene dưới Trầm tích thuộc hệ tầng này nằm phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Cà Cối và được mô tả tại giếng khoan CL-1X thuộc vùng Cà Cối, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh ở độ sâu từ 1,082 - 1,220 m.