CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN Chương này sẽ tập trung phân tích các nghiên cứu liên quan đến tối ưu hóa khai thác các mỏ dầu giai đoạn sản lượng suy giảm sử dụng công nghệ gas lift. Từ đó đánh giá, so sánh với đối tượng nghiên cứu đề tài của tôi để tìm ra các đặc thù riêng của đối tượng và hướng nghiên cứu mới cho đề tài. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến việc chọn lựa các yếu tố quyết định của bài toán mô hình dòng chảy từ vỉa vào giếng, trong ống khai thác và đường ống thu gom như quan hệ IPR (Inflow Performance Relationship), các tương quan dòng chảy trong ống cũng được phân tích, đánh giá và so sánh với đối tượng nghiên cứu để tìm ra những tương đồng và khác biệt, vừa hỗ trợ cho việc xây dựng mô hình, mô phỏng vừa xác định những đóng góp mới từ kết quả nghiên cứu của tôi ứng với đối tượng đặc thù – cụm khai thác WHP-A1 mỏ X.1 Các định nghĩa và phạm vi Hệ thống khai thác Các hệ thống khai thác dầu khí thường khác nhau về giai đoạn khai thác, đặc điểm tầng chứa, cấu hình giếng, công nghệ hỗ trợ khai thác và hệ thống xử lý bề mặt. Trong đề tài nghiên cứu này, hệ thống khai thác được đặc trưng và giới hạn gồm một số giếng khai thác tại một mỏ ở giai đoạn sản lượng suy giảm sử dụng công nghệ gas lift được kết nối với nhau bằng đường ống thu gom và đưa về hệ thống xử lý bề mặt trung tâm.
Các nghiên cứu hiện hữu ứng với một hệ thống khai thác tương tự sẽ được tập trung phân tích để tìm hướng đi mới cho đề tài. Tối ưu hóa Mục tiêu cụ thể của tối ưu hóa trong đề tài này là tối đa hóa lưu lượng khai thác dầu cả hệ thống khai thác ứng với các trường hợp cụ thể, cả bình thường và chuyên biệt. Mô hình hóa và mô phỏng Mô hình hóa: xây dựng mô hình bằng phần mềm chuyên dụng cho toàn bộ hệ thống khai thác. Luận Văn Cao Học 2 Mô phỏng: trên cơ sở mô hình đã xây d ựng, chạy mô phỏng cho các trường hợp cụ thể để đạt kết quả cụ thể tương ứng.2 Các nghiên cứu về tối ưu hóa hệ thống khai thác Tối ưu hóa một hệ thống khai thác luôn là một mục tiêu đầy thách thức do tính đặc thù của cấu hình hệ thống và đặc tính tầng chứa, lưu chất.
Đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào chủ đề này. Trong bài báo SPE 57313 "Gas Lift Optimization Efforts and Challenges" của Y.Chia, Sies Hussain năm 1999, các tác giả đã nêu bật các nỗ lực và thách thức trong quá trình tối ưu hóa sử dụng gas lift tại các mỏ dầu giai đoạn sản lượng suy giảm đặc trưng bởi sự gia tăng tỷ lệ nước và khí. Sử dụng kết quả tính toán tối ưu gas lift kết hợp với thử giếng ở nhiều giá trị lưu lượng gas lift là rất quan trọng để hiệu chỉnh mô hình. Bằng công cụ tối ưu hóa gas lift, áp suất hệ thống đã đư ợc làm giảm bằng cách giảm lượng gas lift hay đóng các giếng có tỷ lệ khí-dầu (GOR) cao để tăng thu hồi dầu các giếng còn lại, kết quả là làm gia tăng sản lượng khai thác toàn mỏ.
Sản lượng khai thác cũng tăng nh ờ tối ưu gas lift đối với các cụm khai thác sử dụng chung đường ống vận chuyển về giàn trung tâm. Các thách thức gồm có kiểu hoàn thiện giếng kép, vỉa có bề dày nhỏ bị hạn chế lưu lượng do hiện tượng nón khí và nón nước, nhũ tương dầu-nước làm tăng độ nhớt pha lỏng và sinh cát. Mặc dù có đối tượng là mỏ dầu giai đoạn sản lượng suy giảm và biến số tối ưu hóa chính là gas lift tương tự đề tài nghiên cứu của tôi, bài báo chỉ mới đưa ra các vấn đề và giới thiệu các giải pháp mang tính quản lý một cách chung chung, mang tính tổng kết cho toàn mỏ với quy mô cực lớn (150 giếng khai thác sử dụng gas lift) mà không đi vào phân tích cụ thể, định lượng chi tiết các vấn đề và giải pháp, kết quả. Bài báo, do vậy chỉ mang tính định hướng một cách định tính và tạo tiền đề cho một nghiên cứu chuyên sâu ứng với một đối tượng cụ thể trong đề tài nghiên cứu của tôi.
Trong luận văn thạc sĩ “Ứng dụng phương pháp mô hình hóa hệ thống khai thác tích hợp nhắm tối ưu hóa khai thác mỏ X” của Phạm Ngọc Đăng Khoa, Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6-2015, tác giả đã tập trung xây dựng mô Luận Văn Cao Học 3 hình tích hợp khai thác bắt đầu từ dòng chảy trong vỉa vào giếng, qua ống khai thác đến hệ thống thu gom và các thiết bị xử lý bề mặt đến điểm cuối là tàu chứa dầu FPSO bằng kết hợp ba phần mềm Avocet, Eclipse và Pipesim với mục tiêu cải thiện độ chính xác của dự báo khai thác tính đến các tác động của hệ thống bề mặt và tối ưu hóa khai thác. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết rất rộng bao gồm các phương trình dòng chảy trong vỉa, trong ống khai thác, qua côn, phương pháp thiết lập cân bằng của phân tích điểm nút… Áp dụng cách tiếp cận này để xây dựng mô hình cho mỏ X, các tính toán đã cho ra dự báo khai thác bằng mô hình tích hợp thấp hơn so với không tích hợp và đề xuất hai phương án tối ưu hóa khai thác là thay đổi áp suất bình tách cao áp và thay đ ổi lượng khí bơm ép vào một giếng. Đặc điểm của hệ thống khai thác sử dụng gas lift và mục tiêu tối ưu hóa sử dụng cách tiếp cận mô hình hóa là tương đồng với nghiên cứu của tôi. Tuy nhiên, với mô hình tích hợp được xây dựng theo diện rộng này, mục tiêu cải thiện độ chính xác dự báo khai thác tính đến tác động của hệ thống bề mặt là thực tế hơn so với mục tiêu tối ưu hóa khai thác.
Thiết lập tối ưu hóa khai thác bằng gas lift của luận văn này chỉ dừng ở mức thử nghiệm với một giếng khai thác dựa trên các thông tin lịch sử khai thác còn thiếu chi tiết và chưa chặt chẽ, đặc biệt dựa trên mô hình với một phần các kết nối của hệ thống bề mặt là giả định cho tương lai. Mô hình được thiết lập cũng như cách tiếp cận trong luận văn này, do vậy, chưa thật sự thể hiện độ tin cậy và tính ứng dụng cao để tối ưu hóa khai thác một hệ thống gồm nhiều giếng với các đặc thù khác nhau. Đề tài nghiên cứu của tôi sẽ tập trung vào mục tiêu tối ưu hóa khai thác một cụm giếng trong thời gian thật với dữ liệu lịch sử khai thác chi tiết của từng giếng và các điều kiện ràng buộc mang tính hệ thống như hạn chế công suất đường ống thu gom, hạn chế lưu lượng, áp suất gas lift và các kịch bản khai thác khác nhau. Trong nghiên cứu “Global Optimization of Gas allocation to a Group of Wells in Artificial lift using Non Linear Constrained Programming”, Journal of Energy Resources Technology” của Gabriel A.Torres (Đại học Los Andes, Venezuela) và Luis E.
Gomez (Đại học Tulsa, Hoa Kỳ), năm 2002, các tác giả đã phát triển một thuật toán phi tuyến, dựa trên hàm mục tiêu và các điều Luận Văn Cao Học 4 kiện ràng buộc để tối ưu hóa phân bổ lưu lượng gas lift cho một cụm giếng khai thác cho mục tiêu tối đa hóa khai thác dầu toàn cụm giếng trong điều kiện tổng lưu lượng gas lift bị hạn chế do các lý do kỹ thuật và kinh tế. Thuật toán là một dạng quy hoạch toàn phương liên tiếp (Sequential Quadratic Programming) sử dụng các phương trình Kuhn-Tucker, Lagrange…, được phát triển dựa trên việc khớp với đường cong hiệu năng gas lift từng giếng đã cho ra các kết quả rất tích cực so với các giải thuật đã được thừa nhận trước đó. Bên cạnh đó, nghiên cứu này đã khẳng định tầm quan trọng của độ tin cậy của đường cong hiệu năng gas lift mỗi giếng đối với kết quả tối ưu hóa khai thác một cụm giếng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các phương pháp tối ưu hóa khác nhau thường cho kết quả tương tự nhau về lưu lượng dầu khai thác của toàn cụm giếng nhưng lại có khác biệt lớn về lưu lượng gas lift phân bổ cho từng giếng.
Theo tôi, đây là một nghiên cứu hữu ích khẳng định hướng đi tối ưu hóa sử dụng thuật toán phi tuyến, cụ thể là quy hoạch toàn phương liên tiếp. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mới đặt ra hạn chế duy nhất về tổng lưu lượng gas lift trong khi không thiết đặt các ràng buộc khác của hệ thống khai thác như hạn chế về công suất đường ống thu gom gây áp suất ngược cao, hạn chế về áp suất gas lift… Thuật toán giải pháp được đề nghị từ nghiên cứu, do vậy chỉ có giá trị tham khảo với tối ưu hóa bởi ràng buộc tổng lưu lượng gas lift. Với các ràng buộc mang tính hệ thống khác của bài toán tối ưu hóa trong đề tài của tôi, các giải thuật khác cần được nghiên cứu sử dụng. Bài báo SPE 136977 “Gas Lift Optimization under Facilities constraints” của H.Wilkinson, năm 2010 cũng là một nghiên cứu tìm phương án tối ưu hóa sử dụng gas lift để tối đa hóa thu hồi dầu các mỏ trưởng thành gồm các giếng khai thác từ nhiều tầng chứa với các ràng buộc từ hệ thống khai thác hoàn thiện gồm đường ống thu gom và các thiết bị xử lý bề mặt.
Nghiên cứu đã tập trung đưa ra phương án sắp xếp các ràng buộc và đề xuất thuật toán hợp lý để giải bài toán tối ưu hóa, đảm bảo đạt kết quả tin cậy nhất trong thời gian ngắn hơn các thuật toán đã được thừa nhận trước đó. Phương pháp Thứ tự Từ Điển Liên Tục (Feasibilized Sequential Lexicographic Order, FSL) được lựa chọn áp dụng trong đó các ràng buộc tuyến tính có quyền ưu tiên hơn các ràng buộc phi tuyến, các ràng Luận Văn Cao Học 5 buộc phi tuyến rẻ có quyền ưu tiên hơn các ràng buộc phi tuyến đắt và đến lượt mình, các ràng buộc phi tuyến đắt ưu tiên hơn các giá trị hàm mục tiêu. Lựa chọn này đã giúp vượt qua các bế tắc trong xử lý các ràng buộc đa dạng bằng các giải thuật trên đường tiến đến giá trị hàm mục tiêu.