CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA BẬC CẢNH QUAN Lịch sử nghiên cứu cảnh quan có nhiều quan điểm, trường phái với các hướng nghiên cứu khác nhau và không ngừng phát triển. Việc nghiên cứu cảnh quan luôn đòi hỏi cách tiếp cận mới đa chiều hơn. Những khác biệt về kết quả nghiên cứu tại các nước, các khu vực bắt nguồn từ quan niệm về cảnh quan, mục tiêu nghiên cứu cảnh quan cũng như quy mô dữ liệu sử dụng khác nhau. Những năm gần đây, hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở các nước Tây Âu có nhiều bước tiến mới và phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh thế giới hiện nay.
Để thực hiện các nội dung của Công ước cảnh quan Châu Âu, các nhà nghiên cứu tại đây đã xây dựng một hệ thống phân loại cảnh quan, phương pháp nghiên cứu tương đối nhất quán cho các nước thành viên (Van Eetvelde và cộng sự, 2006). Hệ thống phân loại và phương pháp nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa quan điểm phân loại cảnh quan với mô tả cảnh quan, kết hợp giữa phương pháp tổng thể và phương pháp tham số với cách tiếp cận từ dưới lên. Trong chương này NCS trình bày, đánh giá các quan điểm nghiên cứu cảnh quan, cấu trúc đa bậc của cảnh quan, các cách tiếp cận, phân loại cảnh quan và quy trình xây dựng bản đồ cảnh quan theo cấu trúc đa bậc. Tổng quan về nghiên cứu cảnh quan 1.
Một số quan niệm về cảnh quan 1. Quan niệm cảnh quan theo kiểu loại: Cho rằng cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lí tự nhiên lãnh thổ. Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Quan niệm này được đề xướng bởi một số nhà khoa học của Nga như: L.
Ixatsenko… cũng như G. Wieber của Pháp, Phạm Hoàng Hải,. của Việt Nam [1,2]. Quan niệm xem cảnh quan là các cá thể: Coi cảnh quan là một phân khu trên bề mặt Trái đất, có giới hạn lãnh thổ, có không gian cụ thể và không lặp lại trong lãnh thổ.
Những người theo quan điểm này coi cảnh quan là một trong những đơn vị cấp thấp nhất trong hệ thống phân vùng tổng 6 hợp. Những đơn vị đó là đối tượng cơ bản của việc nghiên cứu địa lý cảnh quan. Thực hiện nghiên cứu cảnh quan theo quan điểm này thường theo hướng tiếp cận từ dưới lên. Điển hình cho quan điểm này có A.Polưnov, Vũ Tự Lập và một số người khác [1,3].
Quan niệm xem xét cảnh quan như là một danh từ chung: Để chỉ các tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ quy mô nào có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó và phân loại chúng theo sự đồng nhất ấy. “Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những hiện tượng tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng quá trình phát triển không ngừng”. Neustruev là người đầu tiên hiểu khái niệm cảnh quan theo nghĩa này. Ủng hộ quan điểm này có các tác giả F.
Quan niệm cảnh quan theo Công ước cảnh quan châu Âu (ELC, 2000) và Hiệp ước cảnh quan Mỹ La tinh (LALI, 2012): a) Công ước cảnh quan châu Âu (ELC, 2000): Cho rằng cảnh quan vừa là đơn vị phân loại vừa là danh từ chung trên bề mặt Trái đất. Công ước cảnh quan châu Âu trao cho các bên (các quốc gia đã tự phê chuẩn quy ước) xác định cảnh quan của lãnh thổ mình, để phân tích đặc điểm, xác định các tiềm năng và áp lực có thể tác động của chúng và thực hiện các chiến lược quản lý, lập kế hoạch và bảo vệ cảnh quan. Với phạm vi quốc gia, có thể cung cấp một khuôn khổ cho nghiên cứu cảnh quan, giám sát, quản lý và lập kế hoạch. Công ước cảnh quan châu Âu thể hiện tư duy cách mạng liên quan sự phát triển của khoa học cảnh quan, đặc biệt chú trọng đến ý nghĩa của thuật ngữ "cảnh quan văn hóa”.
Theo Công ước cảnh quan châu Âu: [7,8] - "Cảnh quan" có nghĩa là một khu vực, theo cảm nhận của mọi người, có đặc tính là kết quả của hành động và tương tác của các yếu tố tự nhiên và con người; - "Chính sách cảnh quan" có nghĩa là một biểu hiện của các cơ quan công quyền có thẩm quyền nói chung nguyên tắc, chiến lược và hướng dẫn cho phép thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm việc bảo vệ, quản lý và quy hoạch cảnh quan; - "Mục tiêu chất lượng cảnh quan" có nghĩa là đối với một cảnh quan cụ thể, công thức của cơ quan công quyền có thẩm quyền về nguyện vọng của công chúng liên quan đến cảnh quan các đặc điểm của môi trường xung quanh họ; 7 - "Bảo vệ cảnh quan" có nghĩa là các hành động để bảo tồn và duy trì ý nghĩa hoặc các đặc điểm đặc trưng của một cảnh quan, được chứng minh bằng giá trị di sản của nó bắt nguồn từ tự nhiên và / hoặc từ hoạt động của con người; - "Quản lý cảnh quan" có nghĩa là hành động, từ góc độ phát triển bền vững, để đảm bảo bảo trì thường xuyên của một cảnh quan, để hướng dẫn và hài hòa các thay đổi được đưa ra bởi các quá trình xã hội, kinh tế và môi trường; - "Quy hoạch cảnh quan" có nghĩa là hành động hướng tới tương lai mạnh mẽ để tăng cường, khôi phục hoặc tạo cảnh quan. Công ước công nhận rằng tất cả các lãnh thổ là một phần của cảnh quan chung bao gồm đô thị, ven đô, nông thôn và đất tự nhiên cũng như các vùng nước và biển. Công ước cung cấp một cái nhìn toàn diện về cảnh quan theo tư duy đương đại về tính bền vững, sự hiểu biết về mối liên quan của con người đến các quá trình sinh thái - hay mối liên quan giữa văn hóa và thiên nhiên - và như vậy nó có ý nghĩa toàn cầu chứ không chỉ riêng biệt cho các quốc gia châu Âu. Công ước Cảnh quan Châu Âu đã đặt ra nhiệm vụ cần có sự hiểu biết toàn diện hơn về cảnh quan.
Công ước cho thấy những mối quan tâm, suy nghĩ về cảnh quan đã bắt đầu được phản ánh trong công việc của các chính phủ, cơ quan môi trường và một loạt các bên quan tâm trong lĩnh vực cảnh quan ở châu Âu. Cảnh quan không nhất thiết phải được phân loại là "tự nhiên" hoặc "văn hóa" bởi vì tất cả các cảnh quan ở châu Âu ở một mức độ nào đó hoặc bị ảnh hưởng bởi con người. Do đó, thuật ngữ "cảnh quan văn hóa" có thể được coi là dư thừa, vì tất cả các cảnh quan của châu Âu cũng có thể được mô tả là "văn hóa" ở một mức độ nào đó, tuy nhiên vấn đề ghi nhận để phân loại hay loại bỏ cảnh quan văn hóa thực sự phức tạp cần nghiên cứu nhiều hơn nữa [9,10,11]. b) Hiệp ước cảnh quan Mỹ La tinh (LALI, 2012): Hiệp ước cảnh quan Mỹ Latinh (LALI) là một tuyên bố về các nguyên tắc đạo đức cơ bản để thúc đẩy việc công nhận, định giá, bảo vệ, quản lý và quy hoạch bền vững các cảnh quan của Mỹ La tinh bằng cách thông qua các thỏa thuận (luật - hiệp định - nghị định - quy định) nhận ra sự đa dạng và giá trị của địa phương, khu vực và quốc gia, hữu hình đến mức vô hình, về cảnh quan, cũng như các nguyên tắc và quy trình để bảo vệ nó.
Các nguyên tắc sau đây chi phối Hiệp ước: cảnh quan là một thành phần cơ bản của tự nhiên và văn hóa, góp phần mang lại hạnh phúc cho con người, hình thành văn hóa địa phương và củng cố bản sắc dân tộc; Cảnh quan là một tác nhân cơ bản trong việc bảo tồn lối sống và trong ý thức hệ; Cảnh quan đóng một vai trò quan trọng 8 trong lợi ích chung tạo thành nguồn lực thuận lợi cho việc tạo ra việc làm và tạo ra các công nghệ mới; Cảnh quan, trong tầm nhìn không thể tách rời, tham gia vào sứ mệnh chung là đạt được sự bền vững và thực chất bị ràng buộc với sự thay đổi khí hậu; Cảnh quan không nhận ra biên giới và là một nhà tích hợp phức tạp giữa các quốc gia có chung biên giới; Tầm nhìn cảnh quan đóng góp vào việc bảo vệ khả năng tồn tại của môi trường tự nhiên, các giải pháp dựa trên thiên nhiên, nhằm phát triển và duy trì môi trường xây dựng nhân đạo ở các thành phố, thị trấn và làng mạc. Hiệp ước cảnh quan Mỹ Latinh (LALI) là một tuyên bố về các nguyên tắc đạo đức cơ bản để thúc đẩy công nhận, đánh giá, bảo vệ, quản lý và lập kế hoạch bền vững của cảnh quan Mỹ La tinh, việc thông qua các thỏa thuận nhận ra sự đa dạng và các giá trị địa phương, quốc gia và khu vực, cả hữu hình và vô hình của cảnh quan, cũng như các nguyên tắc và quy trình liên quan để bảo vệ nó. Hiệp ước đề xuất, theo một cách cụ thể, để thống nhất các chính sách đa quốc gia về bảo tồn, bảo vệ, quản lý và phục hồi các đơn vị cảnh quan nằm trong khu vực xuyên biên giới. Mục tiêu chính của Hiệp ước là thúc đẩy công nhận, đánh giá, bảo vệ, quy hoạch và quản lý bền vững cảnh quan, dẫn đến tuyên bố và công nhận sự đa dạng và giá trị của cảnh quan đa dạng của các nước tham gia [12].
Tổng quan tình hình nghiên cứu cảnh quan 1. Theo hướng phân loại cảnh quan Hướng nghiên cứu này coi cảnh quan là một thực thể tồn tại khách quan trong tự nhiên, có mối liên kết chặt chẽ và có các chỉ tiêu phân định rõ ràng giữa các bậc phân vị trong một hệ thống phân loại riêng biệt tùy theo vùng lãnh thổ. Các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Liên Xô trước đây và Nga hiện nay là những kết quả nổi bật theo hướng nghiên cứu này [1]. Dokuchaev được coi là nhà nghiên cứu lớn về cảnh quan đầu tiên của Nga.
Là nhà thổ nhưỡng học, ông cho rằng các loại đất nên được xem như một vật thể tự nhiên độc lập, phát triển theo các quá trình đã biết và do đó đất hoàn toàn khác và được phân biệt với các vỏ phong hóa bở rời trên bề mặt Trái đất.