Tổng quan luận án
Nghiên cứu cấu trúc sâu vỏ Trái đất đóng vai trò then chốt trong việc xác lập bức tranh địa động lực, làm sáng tỏ cơ chế phát sinh các hiểm họa tai biến địa chất nội sinh như động đất, nứt - trượt lở đất, đồng thời định hướng quy luật phân bố tài nguyên khoáng sản. Trước khi luận án được thực hiện, các sơ đồ cấu trúc sâu vỏ Trái đất trên toàn lãnh thổ hoặc từng vùng ở miền Bắc Việt Nam chủ yếu được xây dựng dựa trên việc xử lý và phân tích tài liệu trọng lực. Do bản chất bài toán ngược trọng lực có tính đa trị tương đối cao, việc đánh giá độ tin cậy của các mô hình này gặp nhiều trở ngại, dẫn đến sự khác biệt đáng kể giữa các kết quả nghiên cứu đã công bố. Mặt khác, các nghiên cứu sử dụng tài liệu địa chấn động đất tự nhiên bị giới hạn bởi mạng lưới trạm ghi thưa thớt nên chỉ phản ánh cấu trúc trung bình quy mô khu vực. Phương pháp đo sâu từ Tellua tuy cung cấp các thông số phân tầng định lượng theo điện trở suất nhưng cũng chịu ảnh hưởng bởi tính đa trị. Luận án "Mô hình cấu trúc vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam trên cơ sở tài liệu địa chấn và trọng lực" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc thiếu vắng một sơ đồ cấu trúc sâu có độ tin cậy cao, thông qua việc ứng dụng trực tiếp tài liệu địa chấn dò sâu có kiểm soát làm điểm tựa định lượng kết hợp với tài liệu trọng lực.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng mô hình cấu trúc sâu vỏ Trái đất lãnh thổ Bắc Việt Nam bằng tài liệu địa chấn và tài liệu trọng lực.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc sâu vỏ Trái đất theo tài liệu địa chấn dò sâu.
- Phân tích kết hợp tài liệu địa chấn dò sâu và tài liệu trọng lực để xây dựng mô hình cấu trúc sâu vỏ Trái đất lãnh thổ Bắc Việt Nam.
- Luận điểm bảo vệ:
- Cấu trúc vận tốc vỏ Trái đất dọc theo hai tuyến địa chấn dò sâu trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.
- Phân tích kết hợp tài liệu địa chấn và tài liệu trọng lực xây dựng mô hình cấu trúc sâu vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc sâu vỏ Trái đất, các ranh giới phân lớp cơ bản (bề mặt móng kết tinh, bề mặt Conrad, bề mặt Moho) và hệ thống đứt gãy kiến tạo sâu.
- Phạm vi không gian: Phần lãnh thổ phía Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 19°N trở ra, bao gồm hai miền cấu trúc lớn là vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc theo bản đồ địa chất và kiến tạo.
- Phạm vi tài liệu và thời gian: Sử dụng dữ liệu đo đạc thực tế do nghiên cứu sinh thu thập tại Viện Địa chất từ năm 2002, số liệu từ đề tài khoa học cấp Nhà nước KC08.06/06-10, bản đồ dị thường trọng lực Bouguer miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (Tổng cục Địa chất, 1995) cùng hơn 70 công trình khoa học đã công bố liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu địa chất và cấu trúc sâu miền Bắc Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn trước năm 1945: Các công trình do các nhà địa chất Pháp thực hiện, tiêu biểu là tờ bản đồ kiến trúc Đông Dương tỷ lệ 1:2.500.000 của Fromaget và cộng sự. Sử dụng thuyết địa di kết hợp tài liệu địa tầng và magma, các tác giả đã chia lãnh thổ Đông Dương thành 3 yếu tố kiến trúc lớn: Địa khối Kon Tum, Địa khối Đông Nam Trung Quốc, Khối Miến Điện (Tây Thượng Lào) và các cánh cung Phú Hoạt, Sông Mã, xen giữa là các võng địa máng Neotriat bị vò nhàu - uốn nếp.
- Giai đoạn 1945–1970: Nghiên cứu cấu trúc sâu dựa trên thuyết địa máng thông qua các thành tạo magma và biến chất, xác lập các đơn vị kiến trúc chính: Khối nền Nam Trung Hoa, Hệ uốn nếp Việt Lào, Địa máng uốn nếp Shan Thái, Đới khâu Sông Hồng và Đứt gãy sâu Sông Mã.
- Giai đoạn từ năm 1971 đến nay: Ứng dụng các phương pháp địa vật lý vào nghiên cứu cấu trúc sâu:
- Phương pháp từ Tellua: Tổng cục Dầu khí áp dụng đầu tiên giai đoạn 1971–1976 tại miền võng Hà Nội (Nguyễn Đức Tiến và cộng sự). Giai đoạn 1994–1995, Viện Vật lý Địa cầu, Viện Địa chất phối hợp với Viện Vật lý Địa cầu Paris đo 4 tuyến (Yên Bái – Tuyên Quang, Nam Định – Hải Phòng, Thanh Sơn – Thái Nguyên, Lương Sơn – Hà Nội – Bắc Ninh), ghi nhận sự mỏng đi của vỏ Trái đất tại trũng Đông Quan và tính xuyên sâu thạch quyển của đứt gãy Sông Hồng. Giai đoạn 2004–2005, Lê Huy Minh và cộng sự đo 3 tuyến tại Thái Bình – Nam Định (dài 35 km/tuyến). Tiếp đó, Lê Huy Minh, Đinh Văn Toàn và cộng sự đo 2 tuyến Thái Nguyên – Hòa Bình và Hòa Bình – Thanh Hóa, phân chia vỏ Phanerozoi và khoanh định các đứt gãy lớn như Sông Hồng, Sông Chảy, Sơn La, Mường La – Bắc Yên.
- Phương pháp từ và trọng lực: Phạm Khoản và Ixaev E. (1971) sử dụng tương quan trọng lực và địa hình theo công thức Demenitskaya, xác định bề dày vỏ tăng từ 31–33 km ở ven biển lên 45–47 km ở phía Bắc và Tây Bắc. Quách Văn Gừng (1978) biến đổi trường trọng lực và từ để lập sơ đồ móng kết tinh, Conrad và Moho. Bùi Công Quế (thập niên 1980, 1990) phân tích tổng hợp trọng lực, từ và địa chấn động đất, xác định Moho sâu 30–31 km ở ven biển và 48–50 km ở Tây Bắc, Conrad sâu 11–12 km ở vùng trũng và 22–24 km ở vùng núi, móng kết tinh sâu 8–9 km ở trũng Hà Nội. Cao Đình Triều (1985, 2005) nghiên cứu quan hệ hồi quy trường nâng, xác định Moho biến động từ 28–42 km (miền Đông Bắc), 26–40 km (miền Tây Bắc) và 26–40 km (miền Trường Sơn). Đinh Văn Toàn (1989) lập bản đồ đẳng sâu móng võng Sông Hồng; Đặng Thanh Hải dùng dữ liệu từ Tellua làm tựa để phân tích lại trọng lực.
- Phương pháp địa chấn: Vũ Ngọc Tân (1979) và Trần Trung Đoàn (1983) phân tích phổ Fourier thời gian truyền sóng; Nguyễn Ngọc Thủy (1999) xây dựng lát cắt vận tốc theo lý thuyết tia; Wu H., Đinh Văn Toàn và cộng sự (2005) phân tích tán sắc sóng mặt. Phạm Văn Thục phân tích sóng $P_g, S_g, P^, S^, P_n, S_n$ qua 3 trạm Bắc Giang, Phủ Liễn, Sa Pa. Lê Tử Sơn (1996) xác định mô hình 4 lớp kiểm nghiệm qua động đất Tuần Giáo (24/06/1983) với tỷ số $V_P/V_S = 1,78$. Songlin Li nghiên cứu địa chấn dò sâu Nam Trung Quốc xác định Moho giáp Bắc Việt Nam sâu 37–38 km. Nguyễn Văn Dương phân tích hàm thu sóng P tại 24 trạm xác định Moho từ 26,5 đến 36,4 km. Đinh Văn Toàn và Lại Hợp Phòng mô hình hóa địa chấn dò sâu 2 tuyến Thái Nguyên – Hòa Bình và Hòa Bình – Thanh Hóa.
Dưới đây là các mô hình vận tốc vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước:
| Độ sâu $H$ (km) |
Vận tốc sóng dọc $V_P$ (km/s) |
| 0 – 2 |
5,00 |
| 2 – 20 |
6,00 |
| 20 – 40 |
6,80 |
| > 40 |
8,00 |
Mô hình vận tốc vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam theo Lê Tử Sơn (1996) và Vũ Ngọc Tân, Nguyễn Đình Xuyên.
| Độ sâu (km) |
Vận tốc sóng $V_P$ (km/s) |
Vận tốc ranh giới (km/s) |
| 0 – 2 |
5,04 |
5,37 |
| 2 – 7 |
- |
- |
| 7 – 12 |
- |
- |
| 12 – 18 |
- |
- |
| > 20 |
- |
- |
| > 40 |
- |
- |
Mặt cắt vận tốc sóng P trong vỏ Trái đất theo các công trình [51, 77, 52, 53, 54].
Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống về tính đa trị của bài toán trọng lực bằng cách sử dụng trực tiếp tài liệu địa chấn dò sâu thực nghiệm trên 2 tuyến cắt qua các cấu trúc địa chất then chốt để xây dựng mặt cắt chuẩn (tài liệu tựa), từ đó định chuẩn quan hệ vận tốc sóng và mật độ ($V_P - \rho$) cho bài toán ngược trọng lực trên toàn miền Bắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết trường sóng đàn hồi, lý thuyết thế trọng trường và kỹ thuật mô hình hóa địa vật lý:
- Cơ sở lý thuyết sóng khúc xạ: Khi sóng đàn hồi truyền qua mặt ranh giới phân chia hai môi trường có vận tốc và mật độ lần lượt là $v_1, \rho_1$ và $v_2, \rho_2$ ($v_2 > v_1$), theo định luật Snell:
$$\frac{\sin\alpha}{v_1} = \frac{\sin\beta}{v_2}$$
Khi góc tới đạt góc tới hạn $i$ ($\sin i = v_1 / v_2$), góc khúc xạ $\beta = 90^\circ$, hình thành sóng trượt dọc ranh giới và phát sinh sóng thứ cấp quay về mặt đất gọi là sóng đầu ($P_{121}$). Hệ số truyền qua năng lượng $Q$ được xác định theo công thức:
$$Q = \frac{A_{12}}{A_1} = \frac{2 v_1 \rho_1}{v_2 \rho_2 + v_1 \rho_1}$$
Phương trình biểu đồ thời khoảng (BĐTK) sóng khúc xạ cho mặt ranh giới nằm ngang ($\varphi = 0$) có dạng:
$$t = \frac{x \sin i}{v_1} + \frac{2h \cos i}{v_1} = \frac{x}{v_2} + \frac{2h \cos i}{v_1} = \frac{x}{v_2} + t_0$$
Tại vùng có đứt gãy kiến tạo phân chia cánh nâng $R_1$ và cánh chìm $R_2$, hiện tượng tán xạ sóng tại các mép đứt gãy tạo ra sóng khúc xạ - tán xạ $P_{01A0}$, sóng tán xạ - đầu $P_{01A010}$ và bước nhảy thời gian trên BĐTK:
$$\Delta t_2 = \frac{\Delta h \cos i}{v_0}$$
- Hệ thống quan sát và xử lý địa chấn khúc xạ: Sử dụng hệ thống BĐTK giao nhau để kiểm soát thời gian tương hỗ $T$, và hệ thống BĐTK đuổi nhằm kiểm tra tính song song của các pha sóng cùng ranh giới. Khoảng cách giữa các máy thu được thiết lập theo điều kiện tránh mất pha:
$$\Delta x \le \frac{v^* T_{chu_ky}}{2} = \frac{v T_{chu_ky}}{2 \sin(i \pm \varphi)}$$
Xác định vận tốc ranh giới ($v_{rg}$) bằng phương pháp BĐTK hiệu $\theta(x)$:
$$\theta(x) = t_1(x) - t_2(x) + T = t_1(x) + [T - t_2(x)]$$
$$v_{rg} = \frac{2 \cos\varphi}{\frac{d\theta(x)}{dx}}$$
Xây dựng chiều sâu mặt ranh giới $h(x)$ bằng phương pháp $t_0(x)$ (trung bình số học):
$$h(x) = \frac{t_0(x) v_{tb}}{2 \cos i} = \frac{t_0(x) v_{tb}}{2 \sqrt{1 - \left(\frac{v_{tb}}{v_{rg}}\right)^2}}$$
- Mô hình hóa và bài toán ngược địa chấn: Dựa trên phương trình Eikonal giải bài toán thuận truyền sóng theo lý thuyết tia:
$$T = pX + 2\int_0^Z (d^2 - p^2)^{1/2} dz$$
$$X = 2\int_0^Z \frac{v p}{(1 - v^2 p^2)^{1/2}} dz$$
Trong đó $p = \sin i / v_j$ là tham số tia sóng, $d = 1/v$ là nghịch đảo vận tốc, $Z$ là độ sâu xuyên của tia sóng. Quá trình mô hình hóa kết hợp giải bài toán ngược bằng cực tiểu hóa sai số bình phương tối thiểu và tương tác đối thoại người - máy để hiệu chỉnh hình thái các lớp và trường vận tốc.
- Phương pháp phân tích trọng lực:
- Nâng trường dị thường Bouguer lên các độ cao 2 km, 5 km, 10 km, 15 km để tách lọc dị thường nguồn sâu.
- Tính gradient ngang cực đại để xác định vị trí, phương kéo dài và ranh giới các đứt gãy kiến tạo sâu.
- Giải bài toán ngược trọng lực 2D và 3D cho các tuyến xa tuyến địa chấn sâu dựa trên quan hệ mật độ - vận tốc ($V_P - \rho$).
- Nguồn tài liệu thực tế:
- Tài liệu địa chấn dò sâu: 02 tuyến đo khảo sát trong khuôn khổ đề tài Nhà nước KC08.06/06-10 gồm tuyến Thái Nguyên – Hòa Bình (T1) và tuyến Hòa Bình – Thanh Hóa (T2), mỗi tuyến dài khoảng 130 km. Bố trí 3 điểm nổ trên mỗi tuyến (điểm đầu, giữa và cuối), nổ trong giếng khoan đường kính 200–300 mm, độ sâu ~30 m. Mỗi điểm nổ gồm 2 vụ nổ cách nhau 3–7 giây với khối lượng thuốc nổ 550–1005 kg (tổng cộng 12 vụ nổ). Sử dụng 200 máy thu REFTEK-125 (tần số 4,5 Hz, độ dài 24 bit, bộ nhớ 64 MB, định vị GPS, khoảng cách máy 500–900 m, tốc độ ghi 250 mẫu/giây, băng ghi dài 15 phút).
- Tài liệu trọng lực: Bản đồ dị thường trọng lực Bouguer miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do Tổng cục Địa chất thành lập năm 1995.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lịch sử nghiên cứu cấu trúc sâu vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam
Chương 1 tổng thuật các kết quả nghiên cứu địa chất, kiến tạo và địa vật lý khu vực miền Bắc Việt Nam. Về mặt cấu trúc địa chất, lãnh thổ nghiên cứu được phân chia thành 4 miền cấu trúc chính: miền Đông Bắc Bộ, miền Tây Bắc Việt Nam, miền Bắc Trung Bộ và miền Thượng Lào; ranh giới giữa các miền là các đứt gãy sâu như Sông Hồng, Lai Châu – Điện Biên và Sông Mã. Bình đồ cấu trúc mỗi miền bao gồm các vòm nâng, phức nếp lồi (Sông Lô, Dãy núi Con Voi, Bắc Thái – Hạ Lang, Quảng Ninh, Fansipan, Sông Mã), phức nếp lõm (Sông Gâm, An Châu, Sông Đà, Sông Cả, Mường Tè), các trũng chồng gối (Sông Hiến, Tú Lệ, Sầm Nưa) và các địa hào Kainozoi (Hà Nội, Cao Bằng, Thất Khê, Lộc Bình, Hoành Bồ, Nghĩa Lộ, Hòa Bình – Bất Bạt, Thanh Hóa). Chương 1 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu cấu trúc sâu theo 3 nhóm phương pháp địa vật lý chính (từ Tellua, từ - trọng lực và địa chấn), phân tích các ưu điểm và hạn chế về tính đa trị của từng phương pháp, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc phối hợp tài liệu địa chấn dò sâu định lượng với tài liệu trọng lực.
Chương 2: Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu cấu trúc sâu vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn dữ liệu thực địa và hệ phương pháp xử lý tài liệu:
- Trình bày thông số kỹ thuật khảo sát của 2 tuyến địa chấn dò sâu T1 và T2 dài 130 km/tuyến với 12 vụ nổ thực nghiệm và hệ thống 200 trạm thu REFTEK-125, cùng bản đồ dị thường trọng lực Bouguer tỷ lệ 1:500.000.
- Trình bày lý thuyết tạo sóng khúc xạ, biểu đồ thời khoảng trong môi trường nhiều lớp và môi trường có đứt gãy kiến tạo.
- Thiết lập quy trình phân tích sóng địa chấn: liên kết sóng đầu và sóng pha, hiệu chỉnh tĩnh, hiệu chỉnh pha, phương pháp BĐTK hiệu tính vận tốc ranh giới $v_{rg}$ và phương pháp $t_0$ xây dựng chiều sâu ranh giới.
- Trình bày thuật toán mô hình hóa địa chấn dựa trên lý thuyết tia Eikonal và bài toán ngược địa chấn.
- Trình bày hệ phương pháp xử lý trọng lực gồm nâng trường lên các độ cao 2, 5, 10, 15 km, tính gradient ngang cực đại xác định đứt gãy và bài toán ngược mô hình hóa mật độ đa giác.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu cấu trúc sâu vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam bằng tài liệu địa chấn và trọng lực
Chương 3 trình bày các kết quả tính toán định lượng và xây dựng mô hình thực nghiệm:
- Phân tích tài liệu địa chấn phản xạ (do TS Steven Harder thực hiện trong đề tài KC08) và địa chấn khúc xạ trên 2 tuyến T1 và T2, xây dựng mặt cắt vận tốc 1D, mô hình tia sóng, kết quả cắt lớp địa chấn và mặt cắt cấu trúc vỏ Trái đất dọc 2 tuyến đo.
- Phân tích trường trọng lực Bouguer qua các mức nâng trường 2 km, 5 km, 10 km và 15 km; thành lập sơ đồ cực đại gradient ngang và sơ đồ hệ thống đứt gãy kiến tạo sâu.
- Phân tích kết hợp tài liệu trọng lực và địa chấn: Dựa trên mặt cắt cấu trúc địa chấn 2 tuyến làm điểm tựa, mô hình hóa trọng lực dọc tuyến để xác định mối quan hệ tương quan giữa vận tốc sóng dọc ($V_P$) và mật độ đất đá ($\rho$) cho các lớp cấu trúc chính.
- Giải bài toán ngược trọng lực 2D/3D cho hệ thống các tuyến đo xa tuyến địa chấn, làm cơ sở xây dựng bản đồ ranh giới cấu trúc trên toàn diện tích miền Bắc.
Chương 4: Đặc điểm cấu trúc sâu vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam
Chương 4 tổng hợp các kết quả phân tích để mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và độ sâu phân bố của các bề mặt ranh giới cấu trúc chính:
- Bề mặt móng kết tinh: Phân bố phức tạp, biến thiên từ lộ ra trên mặt đất tại các khối nhô vùng núi cao đến độ sâu 8–9 km tại vùng trũng sụt Kainozoi đồng bằng Sông Hồng (miền võng Hà Nội). Miền Đông Bắc có bề mặt móng biến động từ 2 đến 6 km; miền Tây Bắc biến động từ 0 đến 7–8 km; miền Trường Sơn (Bắc Trung Bộ) biến động từ 0 đến 5–6 km.
- Bề mặt Conrad (ranh giới giữa lớp granit và lớp bazan):
- Vùng Đông Bắc: Độ sâu phân bố tương đối bình ổn, dao động chủ yếu trong khoảng 12–18 km.
- Đới Sông Hồng: Bề mặt Conrad nâng cao cục bộ, chiều dày lớp granit mỏng đi đáng kể tại các trũng Kainozoi (khoảng 10–12 km).
- Vùng Tây Bắc và các vùng còn lại: Bề mặt Conrad biến động phức tạp, chìm sâu tại các đới uốn nếp và vòm nâng vùng núi cao, đạt độ sâu từ 18 đến 24 km.
- Bề mặt Moho (đáy vỏ Trái đất):
- Vùng Đông Bắc: Bề mặt Moho biến động bình ổn, độ sâu nằm trong khoảng 28–36 km (công trình trước đây ước tính 28–42 km).
- Đới Sông Hồng: Bề dày vỏ Trái đất mỏng đi rõ rệt dọc theo đới tách giãn dạng Rift Sông Hồng và miền võng Hà Nội.
- Vùng Tây Bắc và các vùng còn lại: Bề mặt Moho phân dị sâu sắc, dao động từ 26 km đến 38–40 km. Tại khu vực trũng Sông Đà – Tú Lệ, bề mặt Moho sâu hơn tới 12 km so với các công bố trọng lực trước đó; tại phía Tây vòm nâng Sông Mã, Moho sâu hơn khoảng 8 km.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới sau:
- Xác lập mặt cắt vận tốc và cấu trúc phân tầng vỏ Trái đất: Trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn dò sâu thực nghiệm dọc theo 02 tuyến đo Thái Nguyên – Hòa Bình và Hòa Bình – Thanh Hóa, luận án đã xây dựng mặt cắt cấu trúc vỏ Trái đất có độ tin cậy định lượng cao với các thông số phân lớp:
- Lớp trầm tích: Vận tốc sóng dọc trung bình $V_P < 5,5\text{ km/s}$, độ sâu đáy lớp biến đổi từ $0\text{ đến }6\text{ km}$.
- Lớp granit: Vận tốc sóng dọc $V_P \approx 6,0 - 6,2\text{ km/s}$, độ sâu đáy lớp biến đổi từ $10\text{ đến }18\text{ km}$.
- Lớp bazan: Vận tốc sóng dọc $V_P \approx 6,8 - 7,0\text{ km/s}$, độ sâu đáy lớp thay đổi từ nông nhất $26\text{ km}$ đến sâu nhất $38\text{ km}$.
- Lớp dưới vỏ (manti trên): Vận tốc sóng dọc $V_P \approx 8,0\text{ km/s}$.
- Định chuẩn bài toán ngược trọng lực bằng tài liệu địa chấn tựa: Sử dụng mặt cắt địa chấn dò sâu làm tài liệu tựa để giải bài toán mô hình hóa trọng lực, luận án đã xác định quy luật tương quan giữa vận tốc truyền sóng $V_P$ và mật độ $\rho$ của các lớp cấu trúc trong vỏ Trái đất. Kết quả này giúp giảm đáng kể tính đa trị của bài toán ngược trọng lực, nâng cao độ tin cậy cho các sơ đồ cấu trúc móng kết tinh, mặt Conrad và mặt Moho trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.
- Kiến nghị ứng dụng: Kết quả mô hình cấu trúc sâu và hệ thống đứt gãy kiến tạo được hoàn thiện là cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác đánh giá nguy cơ tai biến địa chất (động đất kích thích, trượt lở), nghiên cứu địa động lực học hiện đại và định hướng tìm kiếm khoáng sản sâu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ trên các nội dung văn bản luận án trình bày:
- Hạn chế:
- Công tác nổ mìn phát sóng địa chấn chỉ được thực hiện vào ban ngày tại các lỗ khoan nông (~30 m), dẫn đến việc băng sóng thu được chịu ảnh hưởng bởi phông nhiễu dao động giao thông và hoạt động dân sinh.
- Số lượng tuyến địa chấn dò sâu trực tiếp mới chỉ thực hiện được 02 tuyến (tổng chiều dài ~260 km), do đó cấu trúc vỏ Trái đất tại các khu vực xa tuyến vẫn phải dựa trên phép ngoại suy giải bài toán ngược trọng lực.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát bổ sung các tuyến địa chấn dò sâu mới cắt qua các miền cấu trúc phức tạp còn lại ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
- Tích hợp đồng thời tài liệu địa chấn dò sâu, địa chấn động đất mạng trạm dày và đo sâu từ Tellua băng rộng để giải bài toán nghịch đảo liên kết đa tham số (vận tốc đàn hồi, mật độ, điện trở suất).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Địa vật lý, Địa chất cấu tạo, Địa kiến tạo và Thăm dò khoáng sản tại các trường đại học và viện nghiên cứu; cung cấp cơ sở phương pháp luận về việc kết hợp địa chấn dò sâu và trọng lực.
- Các cơ quan quản lý và nghiên cứu chuyên ngành (Viện Địa chất, Viện Vật lý Địa cầu, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) trong việc đánh giá hiểm họa động đất, phân vùng địa động lực, khảo sát nền móng công trình trọng điểm quốc gia và tìm kiếm tài nguyên khoáng sản.
- Các nội dung đáng tham khảo: Quy trình kỹ thuật xử lý BĐTK hiệu, phương pháp $t_0$, thuật toán mô hình hóa lý thuyết tia Eikonal và sơ đồ phân bố độ sâu các bề mặt móng kết tinh, Conrad, Moho miền Bắc Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Hệ thống quan sát và thông số kỹ thuật của 02 tuyến địa chấn dò sâu trong luận án được thiết kế như thế nào?
Hai tuyến đo gồm tuyến T1 (Thái Nguyên – Hòa Bình) và tuyến T2 (Hòa Bình – Thanh Hóa), mỗi tuyến dài xấp xỉ 130 km. Nguồn nổ gồm 3 vị trí/tuyến (đầu, giữa, cuối tuyến), mỗi vị trí nổ 2 lỗ khoan sâu ~30 m, đường kính 200–300 mm, lượng thuốc nổ 550–1005 kg, kích nổ cách nhau 3–7 giây (tổng cộng 12 vụ nổ). Hệ thống thu sóng sử dụng 200 máy REFTEK-125 (tần số 4,5 Hz, 24 bit, bộ nhớ 64 MB), định vị và đồng bộ thời gian bằng GPS vệ tinh, khoảng cách đặt máy 500–900 m, tốc độ lấy mẫu 250 mẫu/giây và thời gian ghi 15 phút.
2. Vận tốc sóng dọc ($V_P$) và độ sâu của các tầng cấu trúc vỏ Trái đất miền Bắc được xác định cụ thể ra sao?
Theo kết quả phân tích địa chấn dò sâu: Lớp trầm tích có $V_P < 5,5\text{ km/s}$ (đáy lớp sâu 0–6 km); Lớp granit có $V_P \approx 6,0 - 6,2\text{ km/s}$ (đáy lớp sâu 10–18 km); Lớp bazan có $V_P \approx 6,8 - 7,0\text{ km/s}$ (đáy lớp sâu từ 26 km đến 38 km); Lớp dưới vỏ (manti trên) có $V_P \approx 8,0\text{ km/s}$.
3. Việc kết hợp tài liệu địa chấn dò sâu giải quyết được vấn đề gì của bài toán trọng lực?
Bài toán ngược trọng lực có tính đa trị tương đối cao, khiến các sơ đồ cấu trúc vỏ xây dựng trước đó có sự khác biệt lớn. Luận án sử dụng mặt cắt cấu trúc vận tốc từ 2 tuyến địa chấn dò sâu làm tài liệu tựa để mô hình hóa trọng lực, từ đó xác lập mối quan hệ thực nghiệm giữa mật độ ($\rho$) và vận tốc sóng ($V_P$). Mối quan hệ này giúp cố định tham số và giảm thiểu tính đa trị khi giải bài toán ngược trọng lực cho các tuyến đo khác trên toàn lãnh thổ.
4. Vận tốc ranh giới ($v_{rg}$) trong phương pháp địa chấn khúc xạ được tính toán theo công thức nào từ biểu đồ thời khoảng hiệu?
Biểu đồ thời khoảng hiệu được thành lập theo công thức $\theta(x) = t_1(x) - t_2(x) + T = t_1(x) + [T - t_2(x)]$, trong đó $T$ là thời gian tương hỗ giữa hai điểm nổ. Vận tốc ranh giới được tính bằng công thức:
$$v_{rg} = \frac{2 \cos\varphi}{\frac{d\theta(x)}{dx}}$$
Khi góc nghiêng ranh giới nhỏ ($\varphi = 10^\circ - 15^\circ$), công thức rút gọn thành $v_{rg} \approx 2 / \left(\frac{d\theta(x)}{dx}\right)$.
5. Kết quả khảo sát cấu trúc Moho tại vùng Tây Bắc trong luận án có điểm gì khác biệt so với các công bố trước đó?
Kết quả phân tích kết hợp của luận án chỉ ra bề mặt Moho ở Tây Bắc có độ sâu dao động từ 26 đến 38–40 km. Đáng chú ý, tại khu vực trũng Sông Đà – Tú Lệ, bề mặt Moho sâu hơn tới 12 km, và tại khu vực phía Tây vòm nâng Sông Mã sâu hơn khoảng 8 km so với các kết quả nghiên cứu bằng tài liệu trọng lực đơn thuần đã công bố trước đây.
Kết luận
Luận án "Mô hình cấu trúc vỏ Trái đất miền Bắc Việt Nam trên cơ sở tài liệu địa chấn và trọng lực" đã xây dựng thành công mô hình cấu trúc 4 phân tầng vỏ Trái đất và manti trên dọc theo 02 tuyến địa chấn dò sâu thực nghiệm Thái Nguyên – Hòa Bình và Hòa Bình – Thanh Hóa. Bằng phương pháp luận sử dụng mặt cắt địa chấn làm tài liệu tựa định chuẩn quan hệ vận tốc sóng và mật độ đất đá, công trình đã giải quyết căn bản hạn chế về tính đa trị của bài toán ngược trọng lực Bouguer tỷ lệ 1:500.000. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống sơ đồ độ sâu bề mặt móng kết tinh, mặt Conrad, mặt Moho và đứt gãy kiến tạo có độ tin cậy định lượng cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nghiên cứu địa động lực, đánh giá tai biến địa chất và điều tra tài nguyên khoáng sản tại miền Bắc Việt Nam.