CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về cấu trúc và chức năng cảnh quan a) Trên thế giới Đầu thế kỷ XIX, cảnh quan được nhà địa vật lý vĩ đại Alecxander von Humboldt (1802) định nghĩa một cách khoa học là "Der Totalcharakter einer Erdgegend" nghĩa là toàn bộ đặc tính của một vùng trên Trái Đất (dẫn theo Navel và Lieberman, 1992; Antrop, 2000). Sau đó, cảnh quan học tiếp tục được phát triển với những đóng góp của các nhà địa lý học Đức và Xô Viết.
Nhà địa lý học Xô Viết Docutraev đưa ra quan niệm về địa tổng thể, đề xuất các nghiên cứu định hướng tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn chứ không tách rời chúng ra từng phần. Ông là người đầu tiên trình bày tính đới như một quy luật thế giới và đã đưa ra học thuyết về các đới thiên nhiên. Tuy nhiên, người đưa thuật ngữ “cảnh quan” lần đầu tiên vào trong khoa học địa lý Xô Viết năm 1913 là L. Becgơ - một trong số các học trò của Docutraev.
Ông đã nêu lên rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của địa lý. Học thuyết về cảnh quan chỉ là một bước tiếp theo có tính chất tự nhiên trong sự phát triển học thuyết Docutraev về thể tổng hợp địa lý và học thuyết về các đới thiên nhiên. Sự hình thành khoa học địa lý tự nhiên hiện đại phát sinh trên cơ sở quan niệm về cảnh quan và ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm này là ở chỗ khái niệm về tổng hợp thể tự nhiên, khái niệm về sự tác động tương hỗ. Trong giai đoạn này, học thuyết về cảnh quan vẫn chưa hoàn thiện.
Cho đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, cảnh quan học mới thực sự phát triển ở Liên Xô (cũ) và cảnh quan được coi như “một đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” (A. 5 z So với các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Đức, các nhà địa lý Xô Viết xây dựng khái niệm cảnh quan rộng hơn, bao gồm cả các nhân tố vô sinh lẫn hữu sinh trong khái niệm cảnh quan, và gọi khoa học nghiên cứu cảnh quan theo quan điểm địa lý là địa lý cảnh quan: cảnh quan là một khái niệm chung (Minkov, Armand,.), đồng nghĩa với tổng thể địa lý thuộc các đơn vị khác nhau; là khái niệm loại hình (Polưnov, Gvozdetxki,.); và là khái niệm cá thể (Xoltsev, Ixatrenko,. Dù hiểu cảnh quan theo quan điểm nào đi chăng nữa thì cảnh quan vẫn được xem là một tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, quy nạp hay diễn giải. Trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất, cảnh quan được xem xét ở cả 3 khía cạnh, là đơn vị địa tổng thể (theo khái niệm chung), đơn vị phân kiểu (theo khái niệm loại hình), đơn vị cá thể (theo khái niệm cá thể) (Shishenko, 1988).
Phân tích chức năng cảnh quan là bước quan trọng sau bước phân tích cấu trúc cảnh quan. Tuy nhiên, so với rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc cảnh quan, số lượng công trình nghiên cứu chức năng không nhiều. Một trong những định nghĩa và hệ thống phân loại chức năng cảnh quan đầu tiên được Niemann (1977) đưa ra. Trong hệ thống này, chức năng cảnh quan được chia thành 3 cấp là cấp nhóm chức năng (các chức năng bậc 1), cấp chức năng chính (các chức năng bậc 2) và cấp chức năng phụ (các chức năng bậc 3).
Một hệ thống phân chia chức năng cảnh quan khác được de Groot (1992), sau đó Costanza (1997) và de Groot (2002) bổ sung, áp dụng chủ yếu cho các cảnh quan tự nhiên và bán tự nhiên. Trong hệ thống này, chức năng cảnh quan được chia thành 5 nhóm, bao gồm chức năng điều tiết, chức năng nơi sống, chức năng sản xuất, chức năng thông tin và chức năng giá thể. Các khái niệm, quan điểm và hệ thống phân loại chức năng cảnh quan này gần đây được áp dụng trong một số công trình nghiên cứu thực tiễn ở châu Âu. Bastian (1998) đã xác định cơ sở khoa học và mục tiêu quản lý lãnh thổ dựa trên đánh giá chức năng cảnh quan ở nước Đức.
Andrea Weber và cộng sự (2001) thực hiện một nghiên cứu tác động của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tới sự biến 6 z đổi sử dụng đất lâu dài trong lưu vực, ảnh hưởng tới cấu trúc và chức năng cảnh quan. Bastian và Lütz (2006) nghiên cứu chức năng cảnh quan với vai trò là các chỉ thị cho phát triển các thước đo môi trường nông nghiệp ở một số khu vực nông thôn tại châu Âu. Đầu thế kỷ XXI đánh dấu sự phát triển của một hướng nghiên cứu mới về đa chức năng (multifunctionanity) và cảnh quan đa chức năng (multifunctionanity landscape) (Barkmann, 2004). Đa chức năng sau đó sử dụng phổ biến trong thiết kế và quy hoạch cảnh quan, đặc biệt phổ biến ở châu Âu dựa trên Công ước Cảnh quan châu Âu (European Landscape Convention) của Hội đồng châu Âu (2000, 2007).
Pinto-Correia và Jongman (2004) trên cơ sở sử dụng các tư liệu trong quá khứ và hiện tại đã tiến hành phân tích biến đổi và dự báo giá trị đa chức năng của các cảnh quan Địa Trung Hải. Naveh (2001) đề xuất 10 giả thiết về hướng nghiên cứu tổng hợp các cảnh quan đa chức năng. de Groot (2006) thực hiện một nghiên cứu về cách tiếp cận phân tích đa chức năng trong đánh giá xung đột sử dụng đất phục vụ quy hoạch phát triển bền vững cảnh quan. Tại Việt Nam Khoa học về cảnh quan và những công trình phân tích, đánh giá tổng hợp cảnh quan tại Việt Nam đã được phát triển từ rất sớm (khoảng giữa những năm 50) trên cơ sở kế thừa những nền tảng, lý luận khoa học cảnh quan Xô Viết.
Trước năm 1992, hầu hết các công trình nghiên cứu thể tổng hợp lãnh thổ chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận khoa học cảnh quan của trường phái Liên bang Xô Viết (cũ). Tuỳ vào từng giai đoạn phát triển và để đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà nội dung các công trình nghiên cứu cảnh quan được thể hiện dưới các tiêu đề: “Phân vùng địa lý tự nhiên”, “Cảnh quan địa lý”, “Nghiên cứu cảnh quan”, “Cơ sở cảnh quan”, “Phân vùng cảnh quan”, “Phân tích cảnh quan”,. Vũ Tự Lập (1976) đã nghiên cứu và xây dựng bản đồ cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam theo quan niệm cảnh quan là cá thể. Quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại được các nhà khoa học thuộc Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Khoa Địa lý (Đại học Quốc gia Hà 7 z Nội) áp dụng để xây dựng nhiều bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau (Nguyễn Thành Long, 1993; Nguyễn Cao Huần, 1991, 2002, 2003; Phạm Quang Anh, 1996, 2001; Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, 1997, 2002; Nguyễn An Thịnh, 2006, 2011).
Với sự tiếp thu có hệ thống và vận dụng một cách mềm dẻo trong điều kiện cụ thể, các kết quả nghiên cứu cảnh quan trong nước đã và đang xâm nhập vào thực tiễn góp phần định hướng, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ. Một số công trình tiêu biểu về nghiên cứu cảnh quan tại Việt Nam bao gồm: “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập (1976); Bản đồ cảnh quan Tây Nguyên 1:250. của Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk; Bản đồ cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1:1.000 của Phạm Quang Anh, Phạm Thế Vĩnh và nnk; Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh; Nghiên cứu xây dựng cảnh quan các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam của Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk.; “Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái” của Nguyễn Cao Huần (2005). Những nghiên cứu về cảnh quan học cho đến năm 1992 đã đủ tạo cho các nhà cảnh quan học Việt Nam có những kinh nghiệm nghiên cứu theo hướng tổng hợp và liên ngành cho một số vùng lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Những nhu cầu thực tiễn làm nảy sinh xu thế tất yếu là cảnh quan học phải tiếp cận với các bộ môn khoa học khác có liên quan, quan trọng nhất là hướng tiếp cận sinh thái và kinh tế trong nghiên cứu cảnh quan. Hướng phân tích chức năng cảnh quan và đa chức năng hiện không được đề cập nhiều trong các công trình công bố ở Việt Nam. Trương Quang Hải và cộng sự (2008) ứng dụng chỉ số đa chức năng để phân tích khả năng phát triển kinh tế liên ngành cho khu vực có núi đá vôi thuộc tỉnh Ninh Bình. Nguyễn An Thịnh và Trương Quang Hải (2009) tiến hành phân loại chức năng cho các hệ thống công trình thủy lợi vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, sau đó thực hiện phân tích hiệu ích tổng hợp dựa trên các công cụ phân tích chi phí - lợi ích.
Quy trình này áp dụng phân tích hiệu ích tổng hợp của hệ thống các công trình thủy lợi vùng kinh tế trọng 8 z điểm Bắc Bộ đến năm 2020, bao gồm hệ thống công trình chia sẻ và phân bổ tài nguyên nước, hệ thống công trình bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái thủy sinh, hệ thống công trình phòng chống lũ và giảm thiểu thiên tai, cho thấy hiệu quả cao về kinh tế và môi trường của các công trình này. Một trong những hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng hiện nay chú trọng vào khu vực ven biển. Đây là khu vực tập trung các đô thị lớn nhất, chiếm phần lớn dân số của Việt Nam, nhưng tương đối nhạy cảm. Với đường bờ biển dài 3260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên đã tạo nên những cảnh quan ven biển tương đối đa dạng.
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cảnh quan vùng ven biển với các mục đích khác nhau bởi tính đa dạng sinh học và sự nhạy cảm của khu vực này.