LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Ngày 21 tháng 8 năm 2012 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu (Tên tiếng Anh: Asia Commercial Bank – gọi tắt là ACB) trong gần 20 năm hình thành và phát triển. Sự kiện ông Nguyễn Đức Kiên, nguyên là thành viên Hội đồng sáng lập, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị của ACB bị bắt vì những sai phạm trong hoạt động kinh tế đã ảnh hƣởng rất lớn đến ACB. ACB phải đối mặt với khó khăn thanh khoản, từ phản ứng của ngƣời dân rút tiền.
Cú sốc tại ACB tiếp tục mở rộng khi ngày 23 tháng 8, ông Lý Xuân Hải, nguyên Tổng giám đốc, bị bắt về tội cố ý làm trái quy định của nhà nƣớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Và hơn một tháng sau đó 4 cựu lãnh đạo trong Hội đồng Quản trị bị khởi tố. Khó khăn liên tục đến với ACB trong thời điểm đó, tổng tài sản của ACB đến cuối năm 2012 chỉ đạt 177.000 tỷ đồng giảm tới khoảng 104.000 tỷ đồng so với cuối năm 2011 đƣợc cho là do ảnh hƣởng từ các sự cố này (Báo cáo tài chính năm 2012 của ACB). Còn với thị trƣờng, các tin đồn có một “cơ sở thực tế” để bùng phát và gây hoang mang trong công chúng.
Tuy nhiên, ACB đã ứng phó tốt và khắc phục nhanh sự cố rút tiền xảy ra trong tuần cuối tháng 8/2012. Thanh khoản đƣợc đảm bảo, tài sản không thất thoát quá lớn. Số dƣ huy động tiết kiệm VND khôi phục trong thời gian ngắn. Các chủ trƣơng về tín dụng của Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) đƣợc ACB triển khai nghiêm túc: giảm dần lãi suất cho vay; tăng trƣởng tín dụng thận trọng, tăng cƣờng kiểm soát chất lƣợng tín dụng; cơ cấu danh mục tín dụng theo hƣớng ƣu tiên lĩnh vực sản xuất, hạn chế cấp vốn tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, kinh doanh chứng khoán, bất động sản.
Quy mô huy động và cho vay về cơ bản vẫn có tăng trƣởng so với năm 2011. Tuy số dƣ đến 31/12/2012 giảm so đầu năm nhƣng tính bình quân cả năm, hai chỉ tiêu này tăng xấp xỉ 5% so với số dƣ bình quân năm 2011. Huy động tiết kiệm VND – nguồn vốn ổn định và là thế mạnh truyền thống của ACB tăng trƣởng cao so đầu năm. Đây là điểm đáng khích lệ trong bối cảnh ACB đã tuân thủ trần lãi suất huy động.
Mishkin (2009, trang 203) khẳng định rằng nguồn vốn huy động nắm giữa vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng đặc biệt là nguồn vốn nội tệ của mỗi NHTM phục vụ cho hoạt động của ngân hàng đó. Công tác huy động vốn không chỉ mang ý nghĩa quyết định tới thành công trong hoạt động kinh doanh của bản thân NHTM mà còn tác động và chi phối sự phát triển về mặt kinh tế xã hội của đất nƣớc nói chung. Do vậy, tác giả chọn đề tài: “PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU” 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: những nhân tố nào tác động đến lƣợng vốn huy động tại ACB? Từ đó đƣa ra giải pháp để tăng cƣờng huy động vốn cho ACB.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả dựa trên các phƣơng pháp nghiên cứu sau: - Tác giả trƣớc tiên tổng hợp lý thuyết về hoạt động của NHTM để khái quát đặc điểm và vai trò của vốn huy động vốn hoạt động của NHTM. - Tiếp đến tác giả thu thập dữ liệu, sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả và phƣơng pháp phân tích dữ liệu qua biểu đồ và các bảng biểu để tổng hợp tình hình kinh doanh và tình hình vốn huy động tại ACB trong giai đoạn 2006 – 2013. - Cuối cùng để đạt mục tiêu quan trọng nhất của đề tài là kiểm định đo lƣờng tác động của các nhân tố đến lƣợng vốn huy động tại ACB: Tác giả sử dụng lý thuyết tổng hợp đƣợc để xây dựng bảng câu hỏi khảo sát nhằm khảo sát các nhân tố tác động đến lƣợng vốn huy động của NHTM nói chung tại Việt Nam. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu: Để thực hiện đề tài trên, tác giả hƣớng đến nghiên cứu trong phạm vi của ACB trong giai đoạn 2007 – 2013.
ACB là một trong những NHTM lớn và có hoạt động rộng và bao phủ ở Việt Nam, thêm vào đó ACB đã phát triển mạnh trong giai đoạn từ năm 2007 với thông tin thống kê về tình hình tài chính đảm bảo đủ điều kiện để tiến hành phân tích. Ý nghĩa của đề tài: Với mục tiêu nghiên cứu, đề tài nhằm hƣớng để mục tiêu xác định đƣợc các nhân tố tác động đến lƣợng vốn huy động bằng VND của ACB nói riêng và các NHTM Việt Nam nói chung. Thông qua kết quả nghiên cứu có thể giúp cho ACB cũng nhƣ các NHTM Việt Nam có định hƣớng phát triển hoạt động huy động vốn cũng nhƣ quản lý rủi ro thanh khoản tốt trong thời gian sắp tới. Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài cũng mang đến những đóng góp về mặt cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn và các nhân tố tác động đến lƣợng vốn huy động bằng nội tệ của các NHTM nói chung.
Kết cấu luận văn: Luận văn bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VỐN HUY ĐỘNG Ở NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN CHO NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VỐN HUY ĐỘNG Ở NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về huy động vốn 1. Khái niệm về huy động vốn Huy động vốn là hoạt động nguyên thủy và khởi nguồn của ngân hàng, NHTM thu hút tiền hay nguồn vốn dƣ thừa từ nguời dân, doanh nghiệp, các tổ chức, cơ quan nhà nƣớc…tạo thành quỹ tiền tệ dùng cho các hoạt động cấp tín dụng và đầu tƣ của NHTM. NHTM huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: cá nhân, tổ chức, trong nƣớc, ngoài nƣớc…; và huy động từ nhiều khu vực khác nhau: thành thị, nông thôn…; huy động từ nhiều loại tiền tệ và nguồn vốn khác nhau: VND, USD, EUR, vàng, bạc…NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại công cụ nợ khác (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 2).
Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng, tiền thu đƣợc từ phát hành các giấy tờ có giá là những nguồn vốn quan trọng. Nghiệp vụ huy động vốn tuy không đem mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhƣng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có nghiệp vụ huy động vốn xem nhƣ không có hoạt động của NHTM. Một NHTM khi đƣợc cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định.
Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định nhƣ trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động kinh doanh nhƣ cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng nhƣ đối với khách hàng. Vai trò của Vốn huy động 1.
Đối với NHTM Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ 2 huy động vốn NHTM có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.
Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng. Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tƣ nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tƣơng lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.
Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản suất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng. Hoạt động huy động vốn của NHTM Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác nhƣ cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Theo Nghị định 49/2000/NĐ – CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM nhằm cụ thể hóa việc thi hành Luật các Tổ chức tín dụng , NHTM đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau đây: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc khi đƣợc Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp nhận. 3 - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nƣớc ngoài. - Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Các chỉ tiêu đánh giá huy động vốn - Tỷ trọng các loại tiền gửi: chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: thời gian, loại tiền, sản phầm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng.
- Vốn huy động/Vốn tự có: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có.