Chương 1 đã cung cấp phác thảo về nội dung của luận văn và xác định được câu hỏi nghiên cứu của luận văn. Chương này xem xét các tài liệu học thuật liên quan đến câu hỏi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM, đồng thời phát triển các giả thuyết để trả lời câu hỏi nghiên cứu. Những tranh luận cơ bản và kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa mức độ tập trung thị trường, hiệu quả quản lý, quy mô ngân hàng, quy mô VCSH và khả năng sinh lời lần lượt được trình bày chi tiết trong mục 2. Từ đó luận văn phát triển các giả thuyết nghiên cứu trong mục 2.
Cuối cùng, mục 2.7 tóm tắt chương 2. Ảnh hưởng mức độ tập trung thị trường đến khả năng sinh lời Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ tập trung thị trường và khả năng sinh lời của ngân hàng được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70 và phát triển đến hiện nay, nhưng vẫn chưa đưa ra được một kết quả thống nhất. Điều này được thể hiện dưới bảng 2.1 tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của mức độ tập trung thị trường đến khả năng sinh lời. Tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về mức độ tập trung thị trường và khả năng sinh lời Bảng sau đây thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của mức độ tập trung thị trường lên khả năng sinh lời.
“+” thể hiện mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời, “-” thể hiện mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lời. Khả Biến đại Tác giả Quốc gia Giai đoạn năng diện sinh lời Fiona Tregenna (2009) US 1994-2005 CR2 + Fu và Heffernan (2009) China 1985-2002 HHI, CR - Bhatti và Hussain (2010) Pakistan 1996-2004 CR + Ardianty và Viverita (2011) Indonesia 2003-2009 HHI + Zouari và cộng sự (2011) Tunisia 1990-2005 CR - Mehdi BEHNAME (2012) OPEC 1995-2009 HHI - Ayadi và Ellouze (2013) Tunisia 1990-2009 HHI - Phan Thu Hiền và Phan Thị Vietnam 2005-2012 CR + Mỹ Hạnh (2013) Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Bảng 2.1 cho thấy, một số nghiên cứu đưa ra kết luận ngân hàng hoạt động trong thị trường tập trung cao có khả năng sinh lời cao (Tregena, 2009; Bhatti và Hussain, 2010; Ardianty và Viverita, 2011; Sufian, 2011; Phan Thu Hiền và Phan Thị Mỹ Hạnh, 2013). Các nhà nghiên cứu dựa trên lý thuyết tổ chức công nghiệp được áp dụng trong ngành ngân hàng cho rằng: cấu trúc thị trường quyết định hành vi và ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Theo giả thuyết SCP (Structure-Conduct-Performance) được giới thiệu lần đầu bởi Mason vào năm 1939 như một phương pháp phân tích mối quan hệ giữa thị trường và doanh nghiệp (Lalith Seelanatha, 2010) và được ứng dụng rộng rãi trong phân tích cấu trúc ngành ngân hàng, có mối tương quan dương giữa mức độ tập trung thị trường và khả năng sinh lời của ngân hàng.
Mức độ tập trung cao trong ngành ngân hàng làm gia tăng 2 CRk (Concentration ratio) Tỷ lệ tập trung ngành: Tỷ lệ phần trăm thị phần được nắm giữ bởi k ngân hàng lớn nhất trong thị trường. 13 sức mạnh thị trường của các ngân hàng từ đó gia tăng lợi nhuận. Các ngân hàng hoạt động trong một thị trường tập trung cao có thể giảm lãi suất tiền gửi cũng như tăng lãi suất cho vay thông qua sự cấu kết (công khai hoặc không công khai), từ đó kiếm được lợi nhuận cao hơn các ngân hàng hoạt động trong thị trường ít tập trung hơn, không đề cập đến hiệu quả của chính ngân hàng (Tregena, 2009). Một số nghiên cứu khác cho rằng, các ngân hàng hoạt động trong thị trường có mức độ tập trung cao, tính cạnh tranh giảm có khả năng sinh lời thấp (Fu và Heffernan, 2009; Zouari và cộng sự, 2011; Mehdi Behname, 2012; Ayadi và Ellouze, 2013).
Do đó, xu hướng chung trên thế giới hiện giờ là giảm mức độ tập trung ngành (Thanh Phong, 2013). Ảnh hưởng của hiệu quả quản lý đến khả năng sinh lời Về mối liên hệ giữa hiệu quả quản lý của ngân hàng đến khả năng sinh lời, các nghiên cứu thực nghiệm cho ra những kết quả khác nhau.2 tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của hiệu quả quản lý đến khả năng sinh lời. Tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của hiệu quả quản lý đến khả năng sinh lời Bảng sau đây thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của hiệu quả quản lý đến khả năng sinh lời. “+” thể hiện mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời, “in” thể hiện chất lượng quản lý không có ý nghĩa thống kê khi giải thích khả năng sinh lời.
Biến đại Khả năng Tác giả Quốc gia Giai đoạn diện sinh lời Chỉ số Guru và cộng sự (1999) Malaysia 1985-1999 + hiệu quả Chỉ số Naceur (2003) Tunisia 1980-2000 + hiệu quả Chỉ số Fionna Tregena (2009) US 1994-2005 in hiệu quả Chỉ số Lalith Seelanatha (2010) Sri Lanka 1989-2004 + hiệu quả Ardianty và Viverita Chỉ số Indonesia 2003-2009 in (2011) hiệu quả Chỉ số Mehdi BEHNAME (2012) OPEC 1995-2009 + hiệu quả Chỉ số Ayadi và Ellouze (2013) Tunisia 1990-2009 + hiệu quả Phan Thu Hiền và Phan Vietnam 2005-2012 Thị phần in Thị Mỹ Hạnh (2013) Pulungan và Yustika Chỉ số Indonesia 2005-2011 + (2014) hiệu quả Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Phần lớn các nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có chất lượng quản lý cao có khả năng sinh lời cao. Theo giả thuyết hiệu quả X (X-efficiency), một ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn các đối thủ khác – thông qua tính hiệu quả trong quản lý và công nghệ – sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn nhờ giảm chi phí hoạt động, khả năng sinh lời là kết quả của sự hiệu quả (Tregena, 2009). Trong hệ thống CAMELS được áp dụng để đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng thì yếu tố chất lượng quản lý được nhiều nhà phân tích xem là yếu tố quan trọng nhất, 15 đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu các NHTM Malaysia giai đoạn 1985 – 1998 của Guru và cộng sự (1999) cho thấy hiệu quả quản lý là một trong những nhân tố quan trọng nhất giải thích khả năng sinh lời cao của ngân hàng, các NHTM có thể cải thiện khả năng sinh lời bằng cách tập trung nâng cao chất lượng quản lý chi phí và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm sau này ở nhiều nước như nghiên cứu của Naceur (2003); Lalith Seelanatha (2010); Mehdi Behname (2012); Ayadi và Ellouze (2013); Pulungan và Yustika (2014). Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu thực nghiệm, hiệu quả quản lý không có ý nghĩa khi giải thích khả năng sinh lời (Tregena, 2009; Ardianty và Viverita, 2011; Phan Thu Hiền và Phan Thị Mỹ Hạnh, 2013). Ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng sinh lời Cho đến nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời, nhưng vẫn chưa đưa ra một kết quả thống nhất. Một vài nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn có khả năng sinh lời cao hơn ngân hàng nhỏ (Athanasoglou và các cộng sự, 2006; Bhatti và Hussain, 2010; Mehdi Behname, 2012, Ha Vu và Daehoon Nam, 2013) trong khi một số nghiên cứu khác cho kết quả ngược lại (Sufian và Chong, 2008; Lalith Seelanatha, 2010; Abdelaziz Hakimi, 2013; Raza và Jawaid, 2013).
Kết quả khác biệt giữa các nghiên cứu phụ thuộc lợi thế kinh tế hay tính phi kinh tế theo quy mô trong lĩnh vực ngân hàng. Tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời Bảng sau đây thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng sinh lời. “+” thể hiện mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời, “-” thể hiện mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lời. Khả năng Tác giả Quốc gia Giai đoạn sinh lời Sufian và Chong (2008) Philippine 1990-2005 - Bhatti và Hussain (2010) Pakistan 1996-2004 + Lalith Seelanatha (2010) Sri Lanka 1989-2004 - Mehdi BEHNAME (2012) OPEC 1995-2009 + Abdelaziz Hakimi (2013) Tunisia 2000-2007 + Ha Vu và Daehoon Nam (2013) Viet Nam 2000-2006 + Raza và Jawaid (2013) Pakistan 2001-2010 - Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Theo giả thuyết hiệu quả kinh tế theo quy mô, các ngân hàng lớn có thể giảm thiểu chi phí thu thập và xử lý thông tin (Boyd, J.E Runkle, 1993), chi phí huy động vốn nhờ vị thế và uy tín trên thị trường (Abdelaziz Hakimi, 2013) từ đó tăng khả năng sinh lời của ngân hàng.
Trong khi đó, Sufian và Chong (2008) nghiên cứu các ngân hàng Philipin, Raza và Jawaid (2013) nghiên cứu các ngân hàng Pakistan cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của quy mô lên khả năng sinh lời. Athanasoglou và các cộng sự (2005) đã đề cập đến tác động của sự tăng trưởng quy mô ngân hàng làm tăng khả năng sinh lời chỉ ở một mức giới hạn. Quá giới hạn này, gia tăng quy mô gây tác động xấu đến khả năng sinh lời do chi phí đại diện, bộ máy cồng kềnh khiến cho ngân hàng khó khăn trong công tác quản lý, điều hành kinh doanh, chi phí tăng cao và giảm khả năng sinh lời. Ảnh hưởng của quy mô vốn chủ sở hữu đến khả năng sinh lời Lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trình bày những kết luận trái ngược nhau về mối quan hệ giữa quy mô VCSH và khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quy mô VCSH và khả năng sinh lời được trình bày tóm tắt trong bảng 2. Tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về quy mô VCSH và khả năng sinh lời Bảng sau đây thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quy mô VCSH đến khả năng sinh lời. “+” thể hiện mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời, “-” thể hiện mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lời. Khả năng Tác giả Quốc gia Giai đoạn sinh lời Naceur (2003) Tunisia 1980-2000 + Kosmidou (2008) Anh 1995-2002 + Pasiouras và các cộng sự (2008) 74 nước 2000-2004 - Pepera và các cộng sự (2013) Nam Á 1992-2007 + Ha Vu và Daehoon Nam (2013) Viet Nam 2000-2006 - Thao Ngoc Nguyen và Chris Viet Nam 1999-2009 + Stewart (2013) Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Theo nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, quy mô VCSH cao (rủi ro thấp) yêu cầu một lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn.