Chương 1: Lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương 2: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Chân Mây Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Chân Mây 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Báo cáo tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Báo cáo tài chính (BCTC) là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm hay một thời kỳ nhất định. Theo Luật kế toán 2015, BCTC là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán [9].
BCTC là một công cụ quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, là tài liệu không thể thiếu được trong việc cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định hợp lý của các đối tượng quan tâm. Ở nước ta hiện nay, để đảm bảo yêu cầu chính xác, hợp lý và có sự tham gia quản lý của Nhà nước, BCTC được lập và trình bày dựa trên các chuẩn mực kế toán và thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính ban hành. Theo quy định hiện hành, hệ thống BCTC trong các doanh nghiệp bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh BCTC. Các loại báo cáo tài chính Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán (CĐKT) là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định [8, tr.
Số liệu trên Bảng CĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào Bảng CĐKT có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. 6 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả từ hoạt động kinh doanh chính và kết quả từ các hoạt động tài chính và hoạt động khác của doanh nghiệp [8, tr. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính, được lập giúp cho người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp (DN) [8, tr.
Thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh BCTC là bản giải trình chi tiết một số chỉ tiêu tổng hợp đã phản ánh trên các BCTC khác, đồng thời tuyên bố các chính sách kế toán DN đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở DN giúp người đọc báo cáo có các thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá tình hình tài chính của DN [4, tr. Các nguồn dữ liệu khác Nguồn dữ liệu khác gồm tạp chí, sách, các bài viết về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp của các tác giả đã được in ấn, xuất bản và phát hành. Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp. Khái quát về phân tích Báo cáo tài chính 1.
Khái niệm Phân tích Báo cáo tài chính là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên các Báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng [4, tr. Vai trò của phân tích Báo cáo tài chính Phân tích tài chính là một trong những việc quan trọng trong những hoạt động thương mại. Phân tích tài chính sẽ giúp cung cấp các thông tin giúp giám 7 đốc tài chính có thể điều chỉnh được ngay những thay đổi giúp doanh nghiệp tăng sức mạnh, tránh những rủi ro tài chính trong tương lai. Các thông tin tài chính được phân tích sẽ giúp cho các nhà đầu tư có những dữ liệu quan trọng để từ đó có thể đánh giá được hiệu quả trong những hoạt động đầu tư của họ vào doanh nghiệp.
Với bất kỳ nhà quản lý doanh nghiệp nào thì phân tích tài chính là rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Những nhà quản lý doanh nghiệp sẽ biết được những điểm yếu cũng như điểm mạnh của doanh nghiệp mình để từ đó biết được những yếu tố nào đang ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp mình đang quản lý. Việc phân tích tài chính không chỉ có vai trò quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn ngay cả đối với những nhà đầu tư và các bên tài trợ vốn cho doanh nghiệp. - Đối với các nhà đầu tư thì các báo cáo tài chính sẽ giúp đưa ra những thông tin cần thiết để giúp các nhà đầu tư có thể xem xét và quyết định xem dự án đó có mang lại lợi nhuận hay không để đưa ra những quyết định quan trọng về dự án đó.
- Với các bên tài trợ vốn cho doanh nghiệp thì việc phân tích tài chính sẽ là căn cứ quan trọng để có thể đưa ra những quyết định có tài trợ vốn cho doanh nghiệp hay không, để xem xét tính khả thi của dự án và hiệu quả tài chính của dự án. - Đối với cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan Thuế, Tài chính và cơ quan chủ quản: qua phân tích BCTC cho thấy thực trạng về tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ tính toán mức thuế mà doanh nghiệp phải nộp, cơ quan tài chính và cơ quan chủ quản sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả hơn [8, tr. Phƣơng pháp sử dụng phân tích báo cáo tài chính 1.
Phương pháp so sánh Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong phân tích để đánh giá 8 kết quả, xác định xu hướng biến động của các chi tiêu phân tích. Trong phân tích BCTC, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang (còn gọi là phân tích ngang) và so sánh dọc (còn gọi lại phân tích dọc). So sánh ngang BCTC là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng BCTC; còn so sánh dọc BCTC là việc sử dụng các tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng BCTC và giữa các BCTC để rút ra các kết luận” [8, tr. Khi sử dụng phương pháp so sánh, cần lưu ý các vấn đề như sau: + Thứ nhất, điều kiện so sánh.
Phải tồn tại ít nhất 02 chỉ tiêu phân tích và các chỉ tiêu phân tích phải đảm bảo tính chất so sánh được (tức là phải thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán, thời gian và đơn vị đo lường). + Thứ hai, xác định gốc để so sánh. Việc xác định kỳ gốc để so sánh sẽ phụ thuộc vào mục đích của việc phân tích. Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc so sánh là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hoạt loạt kỳ trước (năm trước).
Khi đó, việc so sánh chỉ tiêu sẽ thực hiện giữa kỳ này với kỳ nước, năm này với năm trước. Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh là trị số kế hoạch, dự toán, định mức của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, việc so sánh chỉ tiêu sẽ được tiến hành giữa thực tế với kế hoạch, dự toán, định mức của chỉ tiêu. Khi xác định vị trí, thứ hạng của doanh nghiệp thì gốc so sánh là trị số của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu trung bình của ngành, các tiêu chuẩn, chuẩn mực xếp hạng của tổ chức đánh giá, xếp hạng chuyên nghiệp công bố hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh.
+ Thứ ba, các dạng so sánh. Để phục vụ cho từng mục đích cụ thể của việc phân tích, phương pháp so sánh thường sử dụng dưới các dạng sau: so sánh bằng số tuyệt đối; so sánh bằng số tương đối; so sánh bằng số tương đối giản đơn; so sánh bằng số tương đối động thái; so sánh bằng số bình quân 9 1. Phương pháp đồ thị Phương pháp đồ thị được sử dụng để phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu đồ, đồ thị để từ đó mô tả xu hướng, mức động biến động của chỉ tiêu hay thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể. Phương pháp đồ thị có nhiều dạng như: đồ thị hình cột, hình tròn Phương phap này có ưu điểm thể hiện rõ ràng, trực quan sự biến động tăng giảm hay mối liên hệ giữa các chỉ tiêu với nhau [8, tr.
Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích là phương pháp được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết quả hoạt động tài chính theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng trong từng thời kỳ. Những chỉ tiêu phân tích BCTC có thể được phân chia theo từng bộ phận (yếu tố) cấu thành, theo thời gian phát sinh và theo không gian (địa điểm) phát sinh. Sau đó sẽ tiến hành xác định mức độ biến động của từng bộ phận giữa các kỳ phân tích với nhau và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu phân tích đến tổng thể chung của việc phân tích BCTC. Khi sử dụng phương pháp phân chia, cần lưu ý các vấn đề như sau: - Thứ nhất, tình hình tài chính của doanh nghiệp phải được lượng hóa dưới các chỉ tiêu phân tích tổng hợp.
- Thứ hai, các tiêu thức phân chia được lựa chọn phải phù hợp với đối tượng phân tích. Phương pháp nhân tố Phương pháp phân tích nhân tố là phương pháp được sử dụng nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần phân tích.