Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Phân quyền tài chính tại Trung Quốc từ năm 1992 tới nay và một số gợi mở cho Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Vinh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Thái Quốc và TS. Hoàng Thế Anh (năm 2022), thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9 31 01 06).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình cải cách mở cửa từ năm 1978 đến nay đã giúp kinh tế Trung Quốc vươn lên quy mô nền kinh tế thứ hai thế giới từ tháng 8/2010. Một trong những động lực quan trọng dẫn tới sự phát triển kinh tế của quốc gia này là cải cách hệ thống tài chính công, trọng tâm là phân cấp, phân quyền quản lý tài chính giữa chính phủ trung ương và chính quyền địa phương. Sau giai đoạn tập trung cao độ trước năm 1980 và giai đoạn khoán ngân sách (1980-1993), cột mốc năm 1992 với bài phát biểu thị sát phía Nam của Đặng Tiểu Bình và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/1992) đã chính thức xác lập mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đưa thị trường phát huy vai trò nền tảng trong phân bổ nguồn lực. Năm 1994, Trung Quốc tiến hành cải cách chế độ thuế (chế độ phân chia thuế) quy mô lớn nhất trong lịch sử, tạo khuôn khổ chia sẻ quyền lực tài chính giữa trung ương và địa phương.

Tuy nhiên, phân quyền tài chính tại Trung Quốc cũng bộc lộ những mặt tiêu cực như: nguy cơ tham nhũng quy mô lớn ở địa phương, hiện tượng khu biệt tài chính, thiếu minh bạch trong báo cáo thu - chi, nợ công địa phương vượt ngưỡng an toàn do chi tiêu công và đầu tư công thiếu kiểm soát, cùng vấn đề lợi ích nhóm. Tại Việt Nam, công tác phân cấp tài chính thời gian qua đã đạt kết quả trong việc huy động và phân bổ nguồn lực, hỗ trợ địa phương khó khăn và từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Dù vậy, cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi vẫn chưa ổn định, thiếu đồng đều, vẫn mang yếu tố bao cấp của cơ chế kế hoạch hóa tập trung (giai đoạn 2011-2016 chỉ có 13 địa phương tự cân đối và điều tiết về ngân sách trung ương, còn lại 50 địa phương nhận trợ cấp cân đối). Xuất phát từ sự tương đồng về thể chế chính trị và bối cảnh chuyển đổi kinh tế, việc nghiên cứu có hệ thống về phân quyền tài chính của Trung Quốc giai đoạn 1992-2021 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn để giải quyết khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đánh giá có hệ thống, toàn diện cơ chế, chính sách và thực tiễn quá trình triển khai phân quyền tài chính ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các chính sách nhằm thực hiện phân quyền tài chính ở Việt Nam hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.

Luận án xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ các lý thuyết về phân quyền tài chính; mô hình lý thuyết phân quyền tài chính mà Trung Quốc áp dụng; phân tích quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc, làm rõ nét đặc sắc trong chính sách phân quyền tài chính tại Trung Quốc.
  2. Làm rõ bối cảnh lịch sử, thực trạng triển khai phân quyền tài chính ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay; đánh giá ưu điểm và hạn chế của vấn đề này.
  3. Nhìn nhận những tác động của chính sách phân quyền tài chính đối với sự phát triển của nền tài chính quốc gia Trung Quốc.
  4. Nghiên cứu thực tiễn phân cấp tài chính ở Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác phân cấp quản lý tài chính ở Việt Nam qua việc phân tích những điểm tích cực, tiêu cực và nguyên nhân.
  5. Dựa vào các bài học kinh nghiệm, đề xuất các biện pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân quyền tài chính ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phân quyền tài chính tại Trung Quốc từ năm 1992 tới nay và những gợi mở cho Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào (i) khái niệm phân quyền tài chính nói chung và phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc; (ii) quá trình thực hiện phân quyền tài chính tại Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay và các đặc điểm riêng biệt; (iii) bài học kinh nghiệm của Trung Quốc; (iv) thực tiễn phân cấp tài chính tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/1992 (thời điểm Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra mục tiêu thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) đến năm 2021.
  • Phạm vi không gian: Trung Quốc đại lục (không bao gồm các đặc khu Hồng Kông, Ma Cao và vùng lãnh thổ Đài Loan) và thực tiễn ngân sách nhà nước tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế và tại Trung Quốc

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo ba nhóm nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu quốc tế về phân quyền tài chính:

  • Inman và Rubinfeld (1997) khẳng định phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giúp khuyến khích sự tham gia của người dân và nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền.
  • Nghiên cứu năm 2006 tại Pakistan và công trình của Muhammad Zahir Faridi (2011) sử dụng phương pháp OLS trên chuỗi thời gian (1972-2005 và 1972-2009) chứng minh phân cấp tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
  • Bird và Wallich (1993) chỉ ra phân cấp tài chính giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công địa phương (giáo dục, y tế, hạ tầng) do chính quyền địa phương nắm bắt thông tin tốt hơn.
  • Ngược lại, Prud’homme (1995) và Tanzi (1996) cảnh báo nguy cơ gây hại cho tăng trưởng, lãng phí quy mô kinh tế và tạo điều kiện cho tham nhũng, lợi ích nhóm nếu thiếu trách nhiệm giải trình và không bảo đảm nguồn thu tương xứng nhiệm vụ chi. Martinez và McNab (2001) nhận định phân cấp tài chính có thể gây bất ổn kinh tế vĩ mô khi làm giảm nguồn lực của trung ương.
  • Philip Bodman, Katherine Ford, Tom Gole và Andrew Hodge (2009) tại Đại học Queensland phân tích các nhân tố thúc đẩy phân cấp tài chính, chỉ ra mối tương quan giữa thu nhập và phân cấp là tích cực ở các nước OECD nhưng tiêu cực ở các nước thu nhập trung bình và thấp.
  • Richard M. Bird và Francois Vaillancourt trong sách do NXB Đại học Cambridge phát hành đã phân tích nguồn gốc, lý thuyết thông thường và sự đảo chiều của xu hướng tập trung ngân sách ở các nước đang phát triển.
  • Andrey Yushkov (2015) trên Tạp chí Kinh tế Nga qua dữ liệu thực nghiệm các khu vực của Nga (2005-2012) kết luận việc phân cấp chi tiêu quá mức mà không kèm phân cấp thu nhập tác động tiêu cực đến tăng trưởng địa phương.

Nhóm nghiên cứu tại Trung Quốc:

  • Justin Yifu Lin và Zhiqiang Liu (2000) sử dụng dữ liệu bảng 30 tỉnh thành trong 23 năm (1970-1993) khẳng định phân cấp tài chính đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tích lũy vốn và cải cách nông thôn.
  • Zhiguo Wang và Liang Ma (2012) phân tích các quy trình, đặc điểm và phép đo lường phân cấp tài chính tại Trung Quốc qua các thập kỷ.
  • Jing Jin và Heng-fu Zou (2006) kiểm tra mối quan hệ giữa phân quyền tài chính và tăng trưởng kinh tế qua hai giai đoạn: khoán tài chính (1979-1993) và hệ thống phân phối thuế (1994-1999), nhấn mạnh sự hội tụ giữa nhiệm vụ thu và chi ở cấp địa phương thúc đẩy tăng trưởng cao hơn.
  • Wuan Wu (2018) đánh giá 20 năm cải cách thuế tại Trung Quốc là chìa khóa quản trị nền kinh tế và thiết lập hệ thống tài chính hiện đại.
  • Zhao Na (2015) nghiên cứu dữ liệu bảng 28 tỉnh (2007-2014) nhấn mạnh yêu cầu làm rõ phân chia trách nhiệm giữa trung ương và địa phương.
  • Zhu Changcun và Hu Jiayong (2017) thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc xây dựng phương pháp đo lường phân cấp tài chính qua hệ thống phân chia thuế giai đoạn 1995-2014.
  • Lin Chun, Sun Yingjie và Liu Rongbing (2018) phân tích phân cấp tài chính từ góc độ phân bổ nguồn lực công ở miền Đông và miền Trung để cân bằng dịch vụ công cơ bản.
  • Wang Shuguang và Wang Danli (2018) tổng kết 40 năm cải cách hệ thống tài chính và thiết lập cơ chế cạnh tranh giữa các địa phương.
  • Wang Wenjian và Ruan Chenglin (2008) phân tích dữ liệu bảng cấp tỉnh giai đoạn 1997-2003, đề xuất siết chặt ràng buộc thu ngoài ngân sách và hoàn thiện chuyển giao tài chính.
  • Qiao Junfeng và Zhang Chunlei (2018) trên dữ liệu bảng 30 tỉnh (1998-2015) chỉ ra: thanh toán chuyển khoản và thu ngoài ngân sách lớn làm giảm nỗ lực tài chính của địa phương, trong khi tỷ trọng thu từ thuế tương quan thuận với nỗ lực tài chính địa phương.

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Lê Kim Sa (2013) tiếp cận kinh tế chính trị để làm rõ cải cách phân quyền ở Trung Quốc; Đoàn Minh Huấn và Trần Minh Đức (2017) phân tích kinh nghiệm phân cấp cung ứng dịch vụ công tại các đô thị trung ương của Trung Quốc.
  • Lê Chi Mai (2006) khảo sát thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại Lạng Sơn và Đà Nẵng, đề xuất xóa bỏ tính lồng ghép và tách bạch ngân sách trung ương với ngân sách địa phương.
  • Bùi Đường Nghiêu (2006) nghiên cứu cơ chế điều hòa ngân sách giữa trung ương và địa phương; Nguyễn Phi Lân (2009) phân tích thực nghiệm tại 64 tỉnh thành Việt Nam giai đoạn 1997-2001 và 2002-2007; Lê Xuân Bá phân tích nguyên tắc phân cấp kinh tế; Lê Toàn Thắng (2013) nghiên cứu phân cấp ngân sách nhà nước từ góc độ hành chính công; Đinh Thị Nga (2017) và Trương Bá Tuấn (2014) đánh giá thực trạng thu chi và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Về lý luận: Chưa có công trình trong nước hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết phân quyền tài chính phương Tây kết hợp đối chiếu với thực tiễn "Trung Quốc hóa", làm rõ khái niệm, tiêu chí đánh giá và các nhân tố chi phối mô hình phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc. Các nghiên cứu quốc tế thường dừng lại ở thống kê tác động kinh tế mà chưa phân tích triệt để nguyên nhân sâu xa của các mặt trái thể chế.
  • Về thực tiễn: Thiếu vắng công trình nghiên cứu toàn diện, cập nhật về phân quyền tài chính tại Trung Quốc từ năm 1992 đến năm 2021 để rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm có khả năng ứng dụng thực tế cho quá trình hoàn thiện chính sách phân cấp tài chính tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Chính sách công và Hệ thống tài chính quốc gia: Luận án định vị chính sách công là công cụ quản lý nhà nước nhằm định hướng mục tiêu, tạo động lực, khắc phục các thất bại thị trường và nâng cao hiệu quả phối hợp. Hệ thống tài chính quốc gia được xem xét qua 5 cấu phần: ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính hộ gia đình, tài chính đối ngoại và tài chính trung gian.
  • Phân biệt Phân cấp và Phân quyền:
    • Phân cấp: Chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn theo thứ bậc hành chính, cấp dưới chịu sự phục tùng cấp trên.
    • Phân quyền: Chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm quản lý chức năng công cộng từ trung ương cho địa phương, quan hệ mang tính bình đẳng theo quy định pháp luật. Gồm 3 cấp độ: tản quyền, ủy quyền và phân quyền hoàn toàn.
  • Khái niệm phân quyền tài chính: Là việc chính quyền trung ương chuyển giao nhiệm vụ chi và nguồn thu ngân sách cho chính quyền địa phương.
  • Lý thuyết phân quyền tài chính thế hệ thứ nhất (FGFF): Gắn với các đại diện Charles Mills Tiebout (lý thuyết "bỏ phiếu bằng chân" - voting with one's feet năm 1956), Wallace E. Oates (định lý phân quyền), và Richard A. Musgrave.
  • Nguyên tắc phân định thuế địa phương: Luận án tổng hợp cấu trúc hình thái phân quyền và tiêu chuẩn sắc thuế địa phương:
Hình thái phân quyền Nội dung chi tiết
Nhìn từ góc độ Chi ngân sách - Phân quyền trong việc hoạch định, lập chính sách tài chính
- Phân quyền trong việc thi hành chính sách tài chính
Nhìn từ góc độ Thu ngân sách - Quyền lựa chọn sắc thuế tài chính
- Quyền lựa chọn thuế suất
- Quyền trưng thu thuế

Nguồn: Tổng hợp từ văn bản luận án (Nguyễn Bình Giang, 2003)

Nhóm nguyên tắc Các tiêu chí cụ thể
3 nguyên tắc chung về thuế 1. Công bằng (theo năng lực và lợi ích)
2. Trung lập (không bóp méo hành vi kinh tế)
3. Đơn giản (chi phí hành thu thấp)
4 nguyên tắc riêng cho thuế địa phương 1. Nguồn thu ổn định
2. Phân bố đồng đều giữa các địa phương
3. Cơ sở thuế phải bất biến (cố định, không di chuyển)
4. Địa phương phải có trách nhiệm tài chính rõ ràng

Nguồn: Tổng hợp từ văn bản luận án (Nguyễn Bình Giang, 2003)

Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng cách tiếp cận liên ngành: tiếp cận kinh tế chính trị, tiếp cận kinh tế quốc tế, tiếp cận thực tiễn - hệ thống, tiếp cận khoa học quản lý và tiếp cận quản lý kinh tế.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm có:

  • Phương pháp hệ thống hóa: Hệ thống hóa các mô hình lý thuyết phân quyền tài chính và đường lối, chính sách tài chính của Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc.
  • Phương pháp phân tích chính sách: Đánh giá cấu trúc, cơ chế vận hành và hiệu lực của các chính sách phân quyền tài chính từ năm 1992 đến nay.
  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình cải cách tài chính qua các giai đoạn lịch sử cụ thể (trước 1978, 1978-1993, 1994 đến nay).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý, tổng hợp chuỗi số liệu kinh tế, thu chi ngân sách nhà nước, các chỉ số phân quyền của Trung Quốc và Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các giai đoạn, giữa các địa phương (miền Đông, miền Trung, miền Tây Trung Quốc) và so sánh thể chế giữa Trung Quốc và Việt Nam.
  • Phương pháp lôgic và dự báo: Phân tích quan hệ nhân quả giữa cơ chế phân quyền và kết quả kinh tế - xã hội; dự báo xu hướng vận động chính sách tài chính trong tương lai.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước Trung Quốc; số liệu thống kê của Bộ Tài chính Trung Quốc, Niên giám Thống kê Trung Quốc, dữ liệu thống kê ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011-2019, cùng các công trình nghiên cứu đã xuất bản của các học giả trong và ngoài nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước, nghiên cứu tại Trung Quốc và nghiên cứu quốc tế liên quan đến phân quyền tài chính, chia sẻ thuế, thanh toán chuyển khoản và tăng trưởng kinh tế. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận về vai trò thúc đẩy kinh tế của phân cấp tài chính, đồng thời tổng hợp các quan điểm phê phán về nguy cơ bất ổn vĩ mô, tham nhũng và nợ công địa phương. Chương này xác lập khoảng trống khoa học về cả phương diện lý luận (cần một khung phân tích hoàn chỉnh về phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc) và thực tiễn (tổng kết giai đoạn 1992-2021 để rút ra bài học cho Việt Nam).

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH

Chương 2 trình bày các khái niệm nền tảng về chính sách công, hệ thống tài chính quốc gia, phân cấp, phân quyền và phân quyền tài chính. Tác giả phân tích hệ lý thuyết phân quyền tài chính thứ nhất (FGFF) của Tiebout, Oates, Musgrave và chỉ ra các nguyên tắc khắt khe trong việc phân định sắc thuế địa phương. Chương này xây dựng các bảng so sánh quan trọng:

  • Bảng 1.1: Các hình thái phân quyền tài chính (nhìn từ thu và chi).
  • Bảng 1.2: Các nguyên tắc đối với thuế địa phương (3 nguyên tắc chung và 4 nguyên tắc riêng).
  • Bảng 1.3: So sánh các hệ lý thuyết phân quyền.
  • Bảng 1.4: So sánh phân quyền tài chính truyền thống và phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc. Chương 2 cũng xác định các tiêu chí đánh giá phân quyền tài chính và phân tích các nhân tố đặc thù tác động đến phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc.

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH TẠI TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY

Chương 3 phân tích sâu thực tiễn triển khai phân quyền tài chính tại Trung Quốc qua các giai đoạn:

  1. Bối cảnh trước năm 1994: Giai đoạn trước 1978 tập trung cao độ; giai đoạn 1978-1993 thực hiện "phóng quyền nhượng lợi", "phân nồi ăn cơm", khoán ngân sách; sau 1992 xác lập kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
  2. Cải cách phân chia thuế năm 1994 và quan hệ tài chính trung ương - địa phương: Tái lập cơ chế phân chia thuế, phân định rành mạch trách nhiệm chi và quyền thu giữa trung ương và địa phương. Chương này sử dụng các dữ liệu cụ thể:
    • Bảng 3.1: Số liệu thu và chi ngân sách Trung Quốc giai đoạn 1994-2018.
    • Bảng 3.2: Thống kê một số nguồn thu tài chính chủ yếu.
    • Bảng 3.3: Tỷ lệ phân chia thuế giữa Trung ương và địa phương đối với một số loại thuế chung.
    • Biểu đồ 3.1: Nguồn thu từ thuế và nguồn thu khác tại Trung Quốc giai đoạn 2015-2019 (Nguồn: Bộ Tài chính Trung Quốc).
    • Bảng 3.4: Một vài chỉ số phân quyền tài chính.
  3. Trọng tâm chính sách hiện nay: Hoàn thiện lý luận phân quyền tài chính đặc sắc Trung Quốc; cải cách chế độ chuyển giao tài chính; cải cách trưng thu thuế và điều chỉnh phân định thuế trung ương - địa phương.
  4. Đánh giá tác động: Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế (quy mô GDP tăng từ 1.000 tỷ USD năm 2000 lên 14.300 tỷ USD năm 2020; GDP Quảng Đông đạt gần 2.000 tỷ USD năm 2020); xây dựng quản trị quốc gia; thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn; nâng cao năng lực quản trị địa phương; giải quyết quan hệ lợi ích trung ương - địa phương; đồng thời chỉ ra các hạn chế về nợ công địa phương, thất thoát và tham nhũng.

Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH CỦA TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

Chương 4 chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về thể chế chính trị, kinh tế và quy mô giữa hai nước, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc. Tiếp đó, chương đánh giá thực tiễn phân cấp tài chính tại Việt Nam:

  • Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước và tiến trình phân cấp tài chính tại Việt Nam.
  • Phân tích số liệu tại Bảng 4.1: Tổng thu NSNN theo phân cấp giai đoạn 2011-2019.
  • Đánh giá thành tựu và tồn tại (tính lồng ghép ngân sách, thiếu ổn định trong phân cấp nguồn thu - nhiệm vụ chi, sự ỷ lại của các địa phương nhận trợ cấp).
  • Đề xuất các gợi mở chính sách cụ thể nhằm đổi mới phân cấp tài chính tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản về phân quyền tài chính của phương Tây và so sánh với thực tiễn Trung Quốc, từ đó luận giải và xây dựng khái niệm "phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc".
  • Làm phong phú thêm hệ thống lý luận tài chính công quốc tế; đặt ra vấn đề học thuật về việc liệu mô hình phân quyền tài chính của Trung Quốc là trường hợp mang tính đặc thù hay có thể áp dụng làm mô hình tham khảo cho các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác.
  • Làm rõ cấu trúc khung phân tích phân quyền tài chính, xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả, nguồn lực thực hiện và mối liên hệ giữa chủ thể quản lý (Nhà nước) và khách thể quản lý (hoạt động tài chính).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện, chi tiết tiến trình cải cách phân quyền tài chính tại Trung Quốc qua các thời kỳ lịch sử (1978-1993, cải cách phân chia thuế 1994, giai đoạn sau gia nhập WTO 2001 và giai đoạn hiện nay).
  • Làm rõ tính tất yếu của việc cải cách thể chế tài chính theo hướng phân quyền giữa trung ương và địa phương trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá khách quan cả hai mặt: lý giải nguyên nhân tăng trưởng nhanh chóng về quy mô GDP, ngân sách nhà nước, dự trữ tài chính; đồng thời chỉ rõ những vấn đề tồn tại lớn như nợ chính quyền địa phương, khu biệt tài chính và tham nhũng.
  • Đưa ra các bài học kinh nghiệm có tính khả thi cao và các gợi mở chính sách cho Việt Nam nhằm hoàn thiện thể chế phân cấp ngân sách nhà nước, khắc phục cơ chế bao cấp, bảo đảm quyền tự chủ tài chính cho địa phương gắn liền với kỷ luật tài khóa và giám sát của trung ương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu chỉ tập trung vào Trung Quốc đại lục (loại trừ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan) và chuỗi dữ liệu kết thúc vào năm 2021.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Luận án đặt ra vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về việc nhân rộng hoặc vận dụng mô hình phân quyền tài chính Trung Quốc sang các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, đòi hỏi phải tính toán cụ thể các yếu tố về thể chế chính trị, quy mô dân số, diện tích lãnh thổ và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của từng quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giới nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Kinh tế Trung Quốc.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn cho các cơ quan tham mưu chính sách tại Việt Nam (như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội) trong quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước, thiết kế cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và hoàn thiện hệ thống thanh toán chuyển giao giữa trung ương và địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Phân quyền tài chính tại Trung Quốc trước năm 1994 có đặc điểm gì?

Trước năm 1980, Trung Quốc áp dụng cơ chế tập trung cao độ nguồn tài chính vào ngân sách trung ương phục vụ kinh tế kế hoạch hóa bao cấp. Giai đoạn 1980-1993, Trung Quốc chuyển sang cơ chế khoán ngân sách theo phương châm "phóng quyền nhượng lợi" và "phân nồi ăn cơm" ("làm được nhiều được giữ lại nhiều"), từng bước giao quyền tự chủ cho địa phương trước khi bước vào cuộc cải cách phân chia thuế năm 1994.

2. Sự kiện năm 1992 có ý nghĩa như thế nào đối với phân quyền tài chính Trung Quốc?

Năm 1992, chuyến thị sát phía Nam của Đặng Tiểu Bình và Nghị quyết Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/1992) đã chính thức xác lập mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Sự kiện này chuyển vai trò của thị trường từ "mang tính phụ trợ" sang "mang tính nền tảng" trong phân bổ nguồn lực, đặt nền móng bắt buộc cho cuộc đại cải cách thể chế phân chia thuế năm 1994.

3. Phân quyền tài chính mang lại những tác động tiêu cực nào tại Trung Quốc?

Văn bản luận án chỉ ra các hệ lụy tiêu cực gồm: tạo điều kiện cho tham nhũng quy mô lớn ở nhiều địa phương, xuất hiện hiện tượng khu biệt tài chính, báo cáo thu chi thiếu minh bạch, vay nợ nước ngoài và chi tiêu/đầu tư công thiếu kiểm soát khiến nợ của chính quyền địa phương vượt ngưỡng an toàn, và sự xuất hiện của các nhóm lợi ích.

4. Bốn nguyên tắc riêng đối với thuế địa phương được nêu trong luận án là gì?

Theo luận án, 4 nguyên tắc riêng bao gồm: (1) Nguồn thu từ thuế phải ổn định; (2) Nguồn thu phải phân bố đồng đều giữa các địa phương; (3) Cơ sở thu của sắc thuế phải bất biến (cố định, không di chuyển giữa các địa phương để tránh cạnh tranh thuế không lành mạnh); (4) Địa phương phải có trách nhiệm tài chính công khai, minh bạch đối với người nộp thuế.

5. Thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016 có điểm gì đáng chú ý?

Trong giai đoạn 2011-2016, trong tổng số 63 tỉnh/thành phố của cả nước, chỉ có 13 địa phương có điều tiết nộp ngân sách về Trung ương, trong khi có tới 50 địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và phải nhận trợ cấp cân đối từ ngân sách trung ương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thế Vinh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn phân quyền tài chính tại Trung Quốc từ cột mốc Đại hội XIV năm 1992 đến năm 2021. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và phân tích chuỗi dữ liệu thực tế, luận án đã làm rõ tính tất yếu, những thành tựu tăng trưởng kinh tế cũng như những mặt trái thể chế trong mô hình phân quyền tài chính kiểu Trung Quốc. Trên cơ sở đối chiếu với thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước tại Việt Nam, công trình đã đề xuất hệ thống bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách có giá trị thực tiễn nhằm đổi mới quản trị tài chính công tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.