PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài Điều tra khảo sát tại trƣờng ĐH Công Nghiệp Tp.HCM, cho thấy rằng trƣờng tuyển sinh khối A đối với ngành TKTT, vì vậy phần lớn các sinh viên khi nhập học đều thiếu kiến thức cơ bản về mỹ thuật. Kết quả khảo sát có đến 86% sinh viên chƣa hề học qua mỹ thuật căn bản. Điều này dẫn đến khó khăn lớn trong quá trình học tập của học sinh cũng nhƣ công tác giảng dạy của giáo viên.
Mặc dù sinh viên đƣợc học môn VMTTP ở ngay những học kỳ đầu tiên nhƣng do đây là môn học đòi hỏi năng khiếu cũng nhƣ sự luyện tập lâu dài nên sau khi học xong môn học này còn rất nhiều sinh viên vẫn chƣa thể phác thảo ra một bản vẽ đẹp, sáng tạo và đúng với ý tƣởng của mình gây khó khăn cho những môn học tiếp theo. Đa số sinh viên đều gặp khó khăn trong việc vẽ màu phối màu, thể hiện chất. Nguyên nhân một phần do thời gian học môn VMTTP trên lớp khá ít, dẫn đến sự quá tải về nội dung chƣơng trình, thời gian trên lớp không đủ để giáo viên có thể giảng dạy chi tiết tất cả các nội dung bài học và mở rộng kiến thức cho sinh viên. Nhiều bài học đƣợc làm mẫu tại lớp nhƣng phần lớn sinh viên không thể tiếp thu đầy đủ kiến thức và kỹ năng mà giáo viên truyền đạt.
Trong số 80 sinh viên đƣợc khảo sát có đến hơn 40% sinh viên nhận định rằng chỉ tiếp thu đƣợc dƣới 50% kiến thức đƣợc truyền thụ và chỉ 8% trong số này tiếp thu đƣợc hơn 70% kiến thức. Chính vì những nguyên nhân trên cho thấy để học tập hiệu quả sinh viên cần phải dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự rèn luyện. Tuy nhiên hiện tại việc tự học của sinh viên gặp rất nhiều khó khăn do thiếu phƣơng tiện học tập. Giáo trình cho môn học VMTTP đã biên soạn khá lâu và đƣợc in đen trắng nên có những phần học cần minh họa bằng hình ảnh thì không rõ ràng, thiếu sự trực quan, thiếu sinh động và khó tiếp thu.
Nguồn sách tham khảo dành cho môn học này cũng rất ít, theo khảo sát có tới 34% sinh viên chỉ có duy nhất 1 tài liệu học. Đa phần sinh viên tìm tài liệu từ internet nhƣng có tới 57% sinh viên nhận xét rằng tài liệu môn học này rất ít và khó tìm. Nguồn tài liệu trên internet chủ yếu là tài liệu tiếng anh nên rất ít sinh viên tiếp cận đƣợc và những tài liệu này thƣờng là những bài rời rạc, tính sƣ phạm rất thấp. 2 Thực hiện đề tài “Thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học VMTT cho sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Tp.HCM”sẽ giúp việc học tập của sinh viên trong môn học VMTTP dễ dàng và hiệu quả hơn.
Phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP cung cấp cho sinh viên một phƣơng tiện tự học đầy đủ và hiện đại có tính hệ thống và tƣơng tác cao. Cách thiết kế phần mềm theo mô hình phát triển động lực sẽ giúp sinh viên phát huy tính tích cực tự học, nâng cao hứng thú và hiệu quả trong quá trình học VMTTP. Phần mềm này sẽ giúp sinh viên tiếp cận với nguồn kiến thức chuyên môn sâu và đa dạng, sử dụng tích hợp các bài giảng, bài kiểm tra, hình ảnh, video minh họa giúp bù đắp những kiến thức mà sinh viên chƣa kịp tiếp thu, hoặc giảng viên không đủ thời gian truyền đạt. Theo thông tƣ số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên cần tích cực đổi mới phƣơng pháp dạy, ứng dụng CNTT để biên soạn các tài liệu và phần mềm dạy học nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình học tập.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng chủ trƣơng cải cách giáo dục theo quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm”. Quá trình dạy học không chỉ là quá trình truyền đạt kiến thức mà còn phải dạy cách học, dạy cách tự học, giúp sinh viên chủ động tiếp cận và làm chủ tri thức. Để làm đƣợc điều này, nhà giáo dục cần phải đầu tƣ tìm ra nhũng cách thức mới trong việc thiết kế giảng dạy nhằm tạo ra các phƣơng tiện có hả năng tạo động lực học tập tích cực cho ngƣời học. Từ những quan điểm đó cho thấyviệc thực hiện đề tài “Thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP cho sinh viên trường đại học Công Nghiệp Tp.HCM” là hoàn toàn thiết thực và phù hợp với yêu cầu đổi mới phƣơng pháp giảng dạy của BGD-ĐT và phù hợp với nhu cầu thực tế của sinh viên ngành TKTT, trƣờng đại học Công Nghiệp Tp.
Thiết nghĩ rằng sản phẩm của đề tài sẽ góp phần làm phong phú nguồn tài liệu học tập của ngành, mang lại một phƣơng tiện học tập bổ ít cho sinh viên, giúp họ có một môi trƣờng học tập và rèn luyện để nâng cao kỹ năng VMTTP nhằm phục vụ cho của bản thân và xã hội. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu: 3 Phƣơng tiện tự học cho sinh viên. Đối tƣợng nghiên cứu Phần mềm hỗ trợ tự học vẽ mỹ thuật trang phục cho sinh viên trƣờng ĐH Công Nghiệp Tp. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học vẽ mỹ thuật trang phục cho sinh viên ngành thiết kế thời trang.
Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học. Khảo sát thực trạng dạy và học môn VMTTP của sinh viên khoa may trƣờng đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh. Thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP cho sinh viên ngành thiết kế thời trang trƣờng đại học Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay, sinh viên khoa may thời trang còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình học VMTTP do thiếu tài liệu học.
Nếu sinh viên đƣợc sử dụng phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP thì việc học sẽ tích cực và hiệu quả hơn. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây: Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết Nghiên cứu thông qua tài liệu sách vở, báo chí, internet…để rút ra các cơ sở lý luận cho việc thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP. Nghiên cứu các chƣơng trình, các phần mềm hỗ trợ trong việc thiết kế phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP. Phƣơng pháp điều tra giáo dục Dùng bảng khảo sát để phỏng vấn thực trạng học của SV khoa may trƣờng đại học Công Nghiệp Tp.
Phỏng vấn trực tiếp qua việc tiếp xúc, trao đổi với sinh viên và giáo viên. 4 Phƣơng pháp thực nghiệm Khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên sau khi sử dụng phần mềm tự học VMTTP. Thực nghiệm có đối chứng kết quả của sinh viên khi sử dụng phần mềm tự học VMTTP. Phƣơng pháp thống kê toán học Dùng phần mềm toán học để xử lý dữ liệu, nhằm phân tích, đánh giá kết quả đạt đƣợc trong quá trình điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết.
Ý nghĩa lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Góp phần làm phong phú và sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thiết kế phần mềm tự học cho sinh viên. Xây dựng đƣợc phần mềm hỗ trợ tự học VMTTP cho sinh viên khoa may thời trang. Góp phần đổi mới PPDH theo tinh thần của Bộ Giáo dục và đào tạo bằng cách xây dựng các PTDH theo hƣớng hoạt động hóa ngƣời học nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức của sinh viên. Giới hạn đề tài Giới hạn về phạm vi thực hiện: đề tài đƣợc thực hiện trong phạm vi khoa may thời trang, trƣờng ĐH Công nghiệp Tp HCM.
Giới hạn về phạm vi sử dụng: dành cho sinh viên ngành thiết kế thời trang trƣờng Đh Công Nghiệp Tp. Giới hạn về nội dung: do phần mềm bao gồm rất nhiều phần, mỗi phần chứa nhiều rất nhiều nội dung nên ngƣời nghiên cứu chỉ tập trung phân tích, thiết kế, hoàn thiện và thực nghiệm kiểm chứng trên phần Màu sắc. 5 PHẦN NỘI DUNG 6 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ THIẾT KẾ PHẦN MỀMHỖ TRỢ TỰ HỌC VMTTP 1.
Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã công bố Quá trình phát triển phần mềm giáo dục trên thế giới Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1950: Năm 1905, trung tâm Media đầu tiên ở Mỹ sƣu tầm đồ dùng dạy học bao gồm các đồ vật, mô hình, bản đồ. Ðầu thế kỷ XX, ở Mỹ bắt đầu có dạy học bằng hình ảnh (visual), vào thập niên 1920 và 1930 có âm thanh (audio). Về sau, nhiều phim ảnh đƣợc đƣa vào lớp học (phim kịch, phim khoa học và lịch sử). Ðến đầu những năm 40, có trung tâm giáo dục theo chƣơng trình dạy học nghe nhìn ở Mỹ (năm 1943).Từ đầu thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, nhiều phƣơng tiện công nghệ trình bày thông tin (chữ viết, âm thanh, hình ảnh) nhƣ phim ảnh ngày đƣợc sử dụng rộng rãi trong giáo dục và đào tạo ở khắp châu Âu, Mỹ.
Việc sử dụng phần cứng máy tính và phần mềm giáo dục cũng đã bắt đầu từ những năm 1940, khi các nhà nghiên cứu ở Mỹ tạo ra phần mềm tập bay để tạo ra mô phỏng dữ liệu trên máy bay phục vụ cho huấn luyện quân sự. Một hệ thống tƣơng tự cũng đƣợc ra đời vào năm 1943. Giai đoạn 1950-1960: Truyền hình ở thập kỷ 50 ngày càng có nhiều kênh đài phục vụ học tập (khám phá, lịch sử…). Ban đầu chỉ tập trung vào việc sử dụng các phƣơng tiện kỹ thuật, về sau vào mục đích dạy học, kết hợp khoa học nghe nhìn với lý thuyết học tập, đánh dấu bƣớc ngoặt ra đời của CNDH hiện đại.Từ đó xuất hiện máy dạy học, tƣ tƣởng dạy học chƣơng trình hóa của Skinner đƣợc hƣởng ứng rộng rãi.
Giai đoạn này Công nghệ máy tính phát triển với sự ra đời của phần cứng. Máy tính cồng kềnh đầu tiên ra đời năm 46, sau này trải qua các thế hệ: thế hệ 1- chân không (vacumn), thập kỷ 50 -thế hệ 2, thập kỷ 60 ra đời transistor (nhanh, nhỏ, rẻ,bền hơn). Các mô phỏng thực hành, các bài hƣớng dẫn (Tutorial) học môn toán ở trƣờng học xuất hiện ở thời điểm này là cơ sở cho sự ra đời của phần mềm dạy học. 7 Hệ thống máy tính giáo dục tiên phong trong thời kỳ này bao gồm các hệ thống PLOTO(1960), đƣợc phát triển tại đại học Illinois.