Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về đề tài, cũng là chương hiện hành. Trong chương này sẽ đưa ra cái nhìn tổng quan về đề tài, cũng như mục tiêu và phạm vi ứng dụng của đề tài. • Chương 2: Các nghiên cứu liên quan Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài mà nhóm tìm hiểu được. • Chương 3: Xây dựng hệ thống Chương này sẽ đi chi tiết vào quá trình thiết kế và xây dựng các mô hình học máy và hệ thống sẽ được tích hợp mô hình này.
• Chương 4: Thực nghiệm và đánh giá Trình bày về quá trình kiểm thử và đánh giá kết quả hiện thực. • Chương 5: Tổng kết Tổng kết về những công việc mà nhóm đã làm, những khó khăn, thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện cùng việc đề xuất hướng cải tiến, mở rộng. 2 Chương 2 Các nghiên cứu liên quan Nhận dạng cảm xúc trong giọng nói có nhiều ứng dụng thực tế quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực tương tác người - máy (Human machine interaction). Các ví dụ có thể kể đến như: • Hệ thống nhận dạng cảm xúc trong giọng nói (SER) có thể giúp phát hiện các vấn đề của khách hàng trong các cuộc gọi đến tổng đài.
Thông thường một khách hàng gặp rắc rối về chất lượng dịch vụ sẽ tìm đến sự giúp đỡ của tổng đài để nhờ hỗ trợ [3], SER sẽ hỗ trợ và trích xuất thông tin giúp cải thiện dịch vụ đó. • Trong tương tác người - robot (human robot interface), robot được dạy cách để tương tác và nhận dạng cảm xúc của con người. Một robot cứu hộ không chỉ cần hiểu được mệnh lệnh trong lời nói mà còn cần phải xác định được các thông tin khác như tình trạng sức khoẻ của ngừoi ra mệnh lệnh để đưa ra quyết định của nó [6]. • Nghiên cứu tâm lý học cho thấy tâm lý của người học ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của việc học.
SER giúp xác định trạng thái cảm xúc của người học, thông qua đó giúp người hướng dẫn đưa ra các giải pháp để truyền tải kiến thức nhằm tăng hiệu quả của quá trình học tập.1 Những nghiên cứu về mối liên kết giữa âm nhạc và cảm xúc con người 2.1 Nguồn gốc âm nhạc Âm nhạc là một môn nghệ thuật âm thanh phản ánh mọi vấn đề xung quanh chúng ta bằng các thành tố mang tính nhạc (cao độ, trường độ, nhip điệu,. Nội dung thể hiện có thể là một hiện tượng, là những cảm xúc (vui, buồn, thất vọng, hạnh phúc), là quan điểm sống hay thậm chí âm nhạc còn thể hiện hình tượng vĩ đại của tập thể, đất nước, nền văn hóa hay cả nhân loại. Bên cạnh đó, âm nhạc còn có mối liên kết chặt chẽ với các bộ môn toán học, thiên văn học, triết học,. Thực tế, đã có rất nhiều lý giải cho vấn đề nguồn gốc âm nhạc.
Chẳng hạn như theo như 3 thời xưa cổ: âm nhạc xuất phát từ nhu cầu sinh lý của con người cũng như động vật muốn thu hút bạn tình – Charles Darwin ; âm nhạc là kết quả của sự dư thừa năng lượng, trong cơn xúc cảm mạnh mẽ những âm điệu của con người sinh ra tính nhạc – Herbert Spencer; “tính tò mò” và “niềm vui” là nguồn gốc kích thích phát triển âm nhạc – Karl Stumpf; nguồn gốc âm nhạc là ma thuật – Jule Combarieu hay nguồn gốc âm nhạc chính là lao động – Khoa thẩm mỹ học Mác – Lê Nin. Thực tế để có câu trả lời hoàn toàn chính xác thì đây gần như là điều không tưởng bởi sự hạn chế của các bằng chứng lịch sử và khoảng cách thời gian giữa hiện tại và giai đoạn sơ khai của âm nhạc là quá lớn. Tuy nhiên, với công nghê khoa học ngày càng phát triển, sự liên quan giữa âm nhạc và các loại hình nghệ thuật khác cùng với mối quan hệ khắn khít giữa nguồn gốc âm nhạc và sự hình thành và phát triển loài người, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời hợp lý và tiệm cận với sự chính xác hơn rất nhiều. Theo quá trình phát triển của loài người từ vượn hình người sang di chuyển thành 2 chân, yếu tố khí hậu, địa lý, nhu cầu giao tiếp trong đó, lao động là yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự phát triển ngôn ngữ và âm nhạc.
Ngoài ra địa lý khí hậu khác nhau dẫn đến cách tiếp cận tự nhiên khác nhau của con người thông qua lao động đã hình thành nên những nền văn hóa khác nhau, từ đó quan điểm về âm nhạc, chất liệu âm nhạc và các thể loại âm nhạc cũng khác nhau. Tóm lại, từ những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại là ăn ở của tổ tiên của chúng ta (những sinh vật yếu ớt và nhỏ bé) điều kiện tự nhiên đã tác động buộc tổ tiên ta phải thích nghi, tư duy nhiều hơn thông qua quá trình lao động. Sau nhiều năm sinh sống ở những môi trường, điều kiện khác nhau, đặc tính lao động của mỗi vùng cũng khác nhau dẫn đến văn hóa mỗi vùng và đặc biệt là nghệ thuật, âm nhạc cũng khác nhau.2 Hoạt động của não người khi nghe nhạc Âm nhạc chính là những sóng âm thanh được truyền đến não, từ đó chạm vào các cung bậc cảm xúc và khiến ta run rẩy. Thế nhưng, mặc dù não bộ vẫn còn là điều bí ẩn đối với các nhà khoa học.
Chúng ta đều biết rằng âm nhạc tác động đến một số vị trí bên trong não. Và nhiều chức năng tại đây bắt đầu được kích hoạt khi tiếp xúc với âm nhạc. Âm nhạc có thể khiến bạn vui, buồn hoặc chìm đắm trong thế giới của riêng mình.Hoạt động của não người khi nghe nhạc. Đó là lý do vì sao các nhà nghiên cứu về bộ não con người rất quan tâm đến âm nhạc bởi họ có thể tìm hiểu được nhiều điều về các chức năng của não khi chúng tiếp xúc với âm nhạc.
Chuyên gia hàng đầu thế giới về mối tương quan giữa “Âm Nhạc và Não Bộ” là nhà khoa học (kiêm nhạc sĩ) Peter Vuust đến từ trung tâm nghiên cứu “Music in the Brain”, thuộc Đại học Aarhus, Đan Mạch. Ông cho biết về mức độ ảnh hưởng của âm nhạc đối với con người thường theo 4 cách. Chúng ta lĩnh hội âm nhạc, âm nhạc khiến ta hành động, chúng ta sử dụng nhạc cụ để thể hiện âm nhạc, và âm nhạc tác động đến cảm xúc của chúng ta. Đó cũng là lý do vì sao các nhà nghiên cứu không ngừng theo đuổi bốn khía cạnh: Sự lĩnh 4 hội, hành động, học hỏi và cảm xúc.
“Điều tuyệt vời ở chỗ là chúng tôi không chỉ nghiên cứu về mức độ tương tác giữa não và âm nhạc, mà còn có cơ hội được hiểu hơn về cách thức hoạt động của bộ não nói chung”. Peter Vuust cho biết âm nhạc có thể vượt qua mọi rào cản vị trí, ngôn ngữ, tuổi tác.3 Mối liên hệ giữa âm nhạc và cảm xúc con người Các nhà nghiên cứu gần đây có xu hướng định nghĩa ‘cảm xúc’ như một hiện tượng bao gồm các sự tương tác giữa bộ não, tâm trí và cơ thể. Bởi vậy, cảm xúc bao hàm không chỉ quá trình nhận thức mà còn thể hiện ở cả những thay đổi sinh lý và những hành động biểu cảm của con người (Juslin, 2010). Cũng dùng ví dụ về con rắn ban nãy, não bộ người đó không chỉ đánh giá nhận thức mà còn kích hoạt chất Adrenalin vào mạch máu, gây ra thay đổi sinh lý là tim đập nhanh hơn.
Người đó, cảm nhận được nỗi sợ hãi, sẽ có thể hét lên và chạy đi (hành động biểu cảm). Cách nhìn nhận này giúp các nhà nghiên cứu có thể khảo sát những phản ứng của người nghe trước âm nhạc một cách khách quan hơn so với việc dựa vào những miêu tả chủ quan về cảm xúc từ phía người nghe. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng âm nhạc có thể tạo ra những phản ứng sinh lý tương tự như những phản ứng gây ra bởi các tác nhân kích thích cảm xúc khác, bao gồm các thay đổi về nhịp tim, thân nhiệt, huyết áp, v. Các bằng chứng khác như hành động biểu cảm, được xác định qua sự quan sát và đo đạc bằng điện cơ đồ các cử động cơ mặt (Witvliet Vrana, 2007) cũng củng cố điều này.
Dựa vào những lý thuyết đi trước và những nghiên cứu gần đây về sự đa yếu tố trong việc kích hoạt cảm xúc, Juslin và Vastjall (2008) đã xây dựng một thuyết đa cơ chế toàn diện hơn, xác định ra bảy cơ chế cốt yếu cùng chịu trách nhiệm trong việc khơi dậy cảm xúc trong con người của âm nhạc. • Phản xạ cuống não (brain stem reflex): khi những thuộc tính âm thanh của âm nhạc được cuống não tiếp nhận như một sự báo hiệu, ví dụ như những âm thanh to, đột ngột, không thuận tai hoặc thay đổi nhịp điệu liên tục trong âm nhạc. Cơ chế này diễn ra vô thức và chỉ có thể gợi lên sự kích thích chứ không gây ra cảm xúc cụ thể. • Sự đồng bộ hóa tiết tấu cơ thể với tiết tấu âm nhạc (rhythmic entrainment): âm nhạc với những nhịp điệu mạnh (như nhạc techno) hay đều đều (như nhạc cúng bái) có thể ảnh hưởng đến một nhịp điệu của cơ thể, điển hình là nhịp tim, và tạo cho người nghe cảm giác được kích thích hoặc bị thôi miên.
• Phản ứng có điều kiện từ việc đánh giá và liên hệ (evaluative conditioning): theo cơ chế này, một khúc nhạc, bài hát liên tục gắn với một sự việc tích cực hay tiêu cực cụ thể sẽ có khả năng gợi ra trong chúng ta những cảm xúc vui hay buồn kể cả trong một tình huống mới. Đây là một quá trình vô thức, không chủ đích và không cần cố gắng. • Sự lây cảm xúc (emotional contagion): khi nhận biết được một diễn đạt cảm xúc nào đó trong âm nhạc, chúng ta tự mình “bắt chước” nó. Cơ chế này do Juslin và Vastjall đưa ra có 5 vẻ gần với giả thuyết của Kivy.
Điểm khác nhau là họ cho rằng không phải chúng ta “nhận nhầm” cảm xúc đó cho mình, mà chúng ta thực sự bị lây cảm xúc đó. Tuy nhiên cơ chế “lây” cũng chưa được họ làm rõ. • Hình ảnh thị giác (visual imagery): khi âm nhạc khiến người nghe tưởng tượng ra những hình ảnh (như overture Hebrides của Mendelssohn thường gợi lên hình ảnh kì vỹ của các hang động trên biển). Những hình ảnh này có khả năng tác động đến con người như các tác nhân kích thích cảm xúc trong đời sống hằng ngày.