mở đầu cho thời kì ây dựng hệ thông phát sinh, Sau Lamarck có Charles Robert Đarwin (1809 - 1882) với học thuyé Tiễn hỏa nỗi tiểng. Tác phẩm “ yguin gée cc lodi” (The origin of speci 1859) cua Darwin đã làm thay đổi những tư tưởng về phân loại sinh vật trước đây và mở ra một hướng mới trong phân loại. Việc nhóm các loải thực vật bảy giờ không phải chỉ căn cử trên những đặc điểm giống nhau một cách đơn giản. mà phải biết tập hợp những dạng thực vật thông nhất với nhau về nguồn gốc.
Sự sắp xếp chúng không những thẻ hiện mỗi quan hệ thân thuộc với nhau mã còn phan ánh được sự tiến hóa của giới Thực vật. “Trong suốt nữa sau th thir XIX va XX, những thành tựu khoa học về các môn họ vật. Hình thái và Giải phẫu thực vật. được tích lầy rất nhỉ |.
Trên cơ sơ thành tựu của những ngảnh khoa học đó. các nhà phân loại học đã xây dựng hệ thống phân loại theo quan “Tùy nhiên. những bằng chứng hóa thạch còn thiểu nhiễu nên cây phát sinh chung loại chưa hoàn thiện. Từ khi tác phẩm" (euôn gốc các lo ra đời cho dén nay vẫn chưa có một bang hệ thông sinh nào hoàn hảo cả.
August Wilhelm Eichler (1839 - 1887) - giáo sư Thực vật hoe ng Đức ở Trường Đại học Tông hợp Kiel đã phân chia thực vật làm hai nhóm: Thực vật không có hoa (Cryptogamae) gém ba ngành (Tàn thực vật, Rêu và Duong xi) và Thực vật có hoa (Phanaerogamae) pm Thực vật hạt trần vả Thực vật hạt kin. Thực vat hat kin lai phan chia thành: cây Một lá mầm và cây Hai lá mắm (gồm có cảnh trảng rời hay không có cánh tràng và cảnh tràng hợp). Adolf Engler (1844 - 1930) - giáo sư thực vật Trường Đại học Tổng hop Berlin. Ông chấp nhận những đặc điểm chính của sự phân loại của Eichler.
nhưng điểm đặc trưng của hệ thống Engler là Thực vật Một lá mắm đặt trước Thực vật Hai lá mắm và Thực vật Không có cảnh tràng: Thực vật hai lá mâm có hoa đuôi sóc được s trước những nhóm thực vật khác. Điều đó chứng tỏ tác giả xem nhóm sau cùng này là nguyên thủy hơn. Richard Von Wettstein (1862 - 1931)- nha hệ thống học người Áo đã dựng bang phân loại giống như của Engler. Ông cũng xem hoa trần, dơn tinh 1a ny; suyên thủy và hoa đây đủ xuất hiện sau.
Ông cũng cho rằng, Thực vật một lá mắm tiền bộ hơn Thực vật hai lá mắm. Charles Edwin Bessay (1845 - 1915) - nhà thực vật học người Mỹ, gi sự Trường Đại học Tông hợp Nebraska, mo dau cho mot ô tư tưởng mới liên quan đến những đặc điểm nguyên thủy vả tiến bộ ở thực vật. Ông lả người phong xem những hoa lưỡng tỉnh có kích thước lớn, các thành phần hoa xoắn thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là nguyên thủy nhất trong nhóm Thực vật hạt kín. HỆ ông của Bes ay dựa vào một loạt cá nguyên tắc.
Vi dy như: ~ Sự tiễn hóa khỏng phải luôn luôn là đi lên, nhưng thường nỏ cũng bao gôm cả sự thoái hóa và sự phân hủy ~ Nhin chung, những ốc (homogeneous) là thấp hơn và những cầu trúc khác nguồn gốc (heterogeneous) là tiền hóa hơn. Sự tiên hóa không cần thiết phải bao gồm tắt cả các cơ quan của thực. vatd thay đổi theo ch hướng tiễn bộ mà có thê là một cơ quan tiễn hóa trong khi các cơ quan khác ngược lại (hiện tượng dị bậc). - Sự phát triển đi lên đôi khi thông qua việc gia tăng sự phức tạp hoặc đơn giản hóa một cơ quan hay một tập hợp các cơ quan.
Ông cũng tin tưởng rằng. ngui gốc của Thực vật hat kin tiễn hóa đơn dòng từ ngành Cycadophyta và có la tir bo A Tué (Bennettiales). 'soài những hệ thông trên. còn có mộ ố nhà phân loại học tập trung nghiên cứu vào việc xây dựng hệ thông Thực vật hat kín (Angiosperms) như ở Mf co Arthur Cronquist (1919 - 1992), Ledyard Stebbins (1906 - 2000) va Robert Thorne: Armen Takhtajan (Lién bang X6 viét trước đây) vả Rolf Dahlgren (Đan Mạch).
Gân đây, một sự hợp tác chưa từng có từ trước đến nay gồm một số lượng lớn các nhả khoa học nhiễu quốc gia nhằm phát triển một hệ thông mới chỉ dựa vào một gen duy nhất để thiết lập hệ thông *Vhám Phát sinh Ching loại Thực vật hạt kín" (Angiosperm Phylogeny Group - APG). Từ hệ thông đầu tiên được xây dựng năm 1998 - 2016 đã có những thay đổi: APG I (1998), APG II (2003), APG III (2009) và APG IV (2016) Mặc dù có nhiều hệ thông phân loại thực vật xây dựng theo những cầu trúc khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hệ thống nảo hoàn chỉnh. Trong tương của khoa học kỹ thị học phân tử, hy vọ Ig chúng ta sẽ cỏ một hệ thống sinh tự nhiên. phản ánh tương đổi chính x: c quá trình tiễn hóa của giới Thực vật.
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5. Phương pháp hình thái so sánh Đây là phương pháp cỗ điển nhất nhưng lại là cơ sở và được nhiễu nhà phân loại học sử dụng. Trong phương pháp nay, các nha phân loạ ¡ thường dựa vào những đặc điểm giéng nhau về hình thái của \y đặc biết là cơ quan sinh in để so sánh và phân biệt hai loài khác nhau. Cây càng cỏ nhiều tính chất ciỐng nhau thì mỗi quan hệ họ hãng cảng gần gũi.
phương pháp so sánh hình thái thường hay gặp những khó khăn vì các loài thực vật giếng nhau thường do hai nguyên nhà ~ Một là. chúng có chung một nguồn gốc. do dưới một điều kiện sống nào đó, chọn lọc tự nhiên giữ lại những đột biến có lợi cho sinh vật theo hưởng cỏ kiểu hình giống nhau nhằm thích nghỉ với điều kiện sống. Đây lả kết quả của sự tiến hỏa hội tu (convergent evolution).
Vi vậy, những dẫu hiệu này không được sử dụng đẻ phân loại. Những đặc điểm giống nhau do thực vật có chung nguồn gốc (phát sinh từ mẫm phôi) nhưng do chức năng khác nhau nên có hình thái không giống nhau. Những đặc điểm như vậy được gọi là những đặc điểm tương đồng (homologues features). Vi dụ: Gai xương rồng vả tua cuỗn của đậu Hà Lan là đặc điểm tương đồng.
vì chúng đều là biển thai của lá. Côn đặc điểm do tiến hỏa hội tụ được gọi là đặc điểm tương tự (analogues features). như gai của cây họ Xương rồng do biến thải của lá, thường t trung thảnh cụm và gai của một số cay ho Thau dau (Euphorbiaceae) 1a é nên thường phân nhảnh, nhỏ, không bao giờ tập trung thành cụm. Hai loài nảy đều sống trong môi trường giống nhau (vùng đất cát khé cin), do đó việc dự trữ nước và xuất hiện gai như là một "chiến lược” giúp cho cơ thể hạn ché s hụt nước và tránh được những động vật ăn thực vật để lấy nước.
Viva hi phân loại cần phải chi ý đến cơ quan sinh sản (là cơ quan íL bị biến đôi) và so sảnh các cơ quan tương đông chứ không phái so sánh các cơ. quan tương tự. trong thực tế sự phân biệt hai loại dẫu hiệu nay rét khó khăn hoặc do hiện tượng giảm cơ quan. ngo: nghiên cứu những đặc diễm giống nhau cẩn phải cỏ những so sánh về các đặc điểm khác nhau.
Vi dy: Ngoài dấu hiệu có gai. các loài thuộc họ Xương rồng (Caetaceae) và họ Thâu dầu (Euphorbiaceae) còn có những đặc điểm khác nhau rõ rệt như hoa họ Xương rồng lớn hơn, lưỡng tỉnh và có nhiều thảnh phần: trong khi hoa họ Thầu dẫu nhỏ. đơn tính, thảnh phần hoa thường tiêu giảm. Gỗ cây ho Xương rồng có trong nhu mô và ít sợi: trong khi gỗ họ Thẫu dầu nhiều sợi và cứng.
Phương pháp hình thái so s hình thái đễ quan sát và nhận biết. phương pháp nảy khỏ áp dụng trong trường hợp cơ quan tiêu giảm hoặc đối với vi khuẩn có kích thước quả nhỏ chỉ vai um. Vi vay, trong phân loại vi khuẩn người ta thường dùng các phương pháp khác bỗ sung như phương pháp sinh hóa, phương pháp di truyền. Phương pháp hóa phân loại Dựa vào nguyễn tắc những cây có quan hé gin gũi, thì các chất tổng hợp bên trong giống nhau hay tương tự.
Vì một số tác giả đã vận dụng nguyên tắc này đề phân loại thực vật và tìm mỗi quan hệ họ hàng giữa chúng. Với sự phát triển của các phương tiện hiện đại về phân tích các hợp chất hữu cơ, các nhả khoa học đã nhận biết được các thông tin về các sản phẩm trao đôi chất của. thực vật và họ đã dựa vào các sản phẩm đó đẻ nghiên cứu phát sinh chủng loại. Từ đó, hình thành nên một lĩnh vực khoa học mới - Hóa phân loại học (Chemotaxonomy) là khoa học phân loại thực vật dựa trên các yếu tố hóa học.
Ví dụ: Những loài trong họ Hoa môi (Lamiaceae) thường có chứa tỉnh dâu hoặc chất betalain hiện diện trong hầu hết các họ thuộc bộ Cảm chướng. ngoại trừ hai họ Cảm chướng (Caryophyllaceae) và họ Cỏ bình cu (Molluginaceae). Mỗi quan hệ giữa các hợp chất thứ cấp và các nhóm. loài thực vật sẽ giúp cho các nhà hóa học định hướng tìm các hợp chất mong.
muốn trong các loài thân cận nhằm tiết kiệm thời gian va kinh phí. Phương pháp cỗ inh vat học Nhằm tìm hiểu quá trình tiến hóa của giới sinh vật, các nhà cổ sinh vật học đã nghiên cứu các hóa thạch để tìm ra mối quan hệ họ hàng giữa những loài sinh vật cỗ xưa và những loài đang tồn tại, từ đó xác định được nguồn gốc của giới sinh vật. Môn Cỏ sinh ật học (Paleontologia) ra đời cũng nhằm mục dich đó. Qua nghiên cứu.
người ta nhận thấy rằng. những lớp trằm tích là nơi giảu đi tích hỏa thạch. William Smith (1796) - một nhà trắc địa người Anh. trong khi xây dựng con kênh đảo ông đã nhận thấy cá "đi vá! hữu eo” gặp trong một lớp đất đá chỉ có mỗi quan hệ với lớp đó mà thôi.
Điều đó cho thấy sự xuất hiện các hóa thạch vả sự lắng đọng lớp trằm tích đều cỏ củng một thời gian. Dựa trên nguyên tắc này mả W. Smith tìm cách xác định tuổi đá bằng hóa thạch. các loại đá khác nhau nếu cỏ cùng một loại hóa thạch thì chúng đễu có cùng một tuôi.
Đi với sinh vật. trong quả trình sông chủng thường hấp thụ ''C v, Sau khi chết chúng ngừng hap thụ vả phân hủy '*C. Quá trình phân hủy của các nguyên tô nảy thường xảy ra trong thiên nhiên vị đều đặn ma không phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, áp suất. Thời gian bán hủy của '*C là 5.