CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM 1. Tổng quan về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận được. Theo Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh.” Nói như vậy để hiểu rằng trong hoạt động kinh doanh thì rủi ro là người bạn song hành thú vị. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động của một ngân hàng nhưng rủi ro lớn nhất và đáng lưu tâm nhất có lẽ là rủi ro tín dụng.
Bởi lẽ rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất và gây tổn thất nhiều nhất cho ngân hàng. (Phạm Thu Thủy & Đỗ Thị Thu Hà, 2013, trang 1) Saunders & Cornett (2008, pp 173) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. Trong khi đó, Koch (1995, pp 107) cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt 6 động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Có rất nhiều định nghĩa nhưng tóm lại, rủi ro tín dụng gồm 2 nội dung cơ bản: Một là khả năng người đi vay trễ hạn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) theo HĐTD và hai là tiềm ẩn dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng ngân hàng Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là rất cần thiết và hữu ích.
Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: - Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng nhưng chính khách hàng mới là người trực tiếp sử dụng khoản tín dụng đó để đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, khi khách hàng gặp phải rủi ro, nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan thì sẽ kéo theo rủi ro tín dụng của ngân hàng. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng NH là NH trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Mọi hoạt động kinh doanh đều gắn liền với rủi ro và hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật khách quan đó. Trong các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM thì nghiệp vụ tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nhất, bởi đặc điểm của hoạt động tín dụng là ngân hàng chỉ bán quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định với giá bán thường nhỏ hơn rất nhiều so với số vốn cho vay. Vì vậy, nếu 7 khách hàng gặp rủi ro trong quá trình kinh doanh, mất khả năng hoàn trả thì NHTM cần một nguồn lực tài chính lớn để bù đắp vốn đã cho vay. Mặt khác, hoạt động tín dụng của NHTM là đi vay để cho vay, nên chịu tác động rủi ro từ nhiều phía.
Chấp nhận rủi ro là điều tất yếu, song ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro là hợp lý và kiểm soát được (trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng).3 Các loại hình rủi ro tín dụng ngân hàng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân thành các loại sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. 8 + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
(Trần Huy Hoàng, 2011, trang 202-203) Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay… 1.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng 1.1 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1.1 Nguyên nhân khách quan: Rủi ro do môi trường kinh tế chính trị xã hội: Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế, các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu hơn gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi các KH có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các NH nước ngoài thu hút. Rủi ro do môi trường pháp lý: Sự đổ vỡ của một NHTM cũng gây ra hệ lụy tới nền kinh tế nghiêm trọng. Do đó, hoạt động của NH mà đặc biệt là hoạt động tín dụng phải chịu sự điều tiết, quản lý chặt chẽ bởi hệ thống luật pháp của mỗi quốc gia.
Khi hành lang pháp lý chưa hoàn thiện sẽ làm cho môi trường kinh doanh kém lành mạnh nguy cơ rủi ro đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng. 9 Nguyên nhân từ phía khách hàng như sử dụng vốn tín dụng sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ, khả năng quản lý kinh doanh kém, tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.2 Nguyên nhân chủ quan: Có thể là do yếu kém trong công tác quản trị của các ngân hàng. Các nhà quản trị ngân hàng yếu kém về năng lực, không nắm bắt được những thay đổi, thiếu bảnh lĩnh trong điều hành, chưa am hiểu tường tận luật pháp, bố trí nhân sự không phù hợp, xây dựng quy trình tín dụng chưa chặt chẽ,. Hay có thể do ngân hàng theo đuổi chính sách tín dụng không hợp lý, quá tham lợi nhuận mà không đảm bảo mức độ an toàn tín dụng.
Do đội ngũ cán bộ trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, đạo đức nghề nghiệp không tốt. Công tác giám sát và quản lý sau khi cho vay chưa thực sự được chú trọng. Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng, ở mức độ nhẹ, rủi ro sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của ngân hàng bởi đồng vốn của ngân hàng hoạt động không đạt được hiệu quả như đã định ra.
Ở mức độ nặng hơn, tỷ lệ quá hạn, nợ xấu cao sẽ làm giảm sút uy tín của ngân hàng, khách hàng, ngân hàng phải huy động với chi phí cao hơn nhằm bù đắp sự thiếu hụt do việc không thu hồi được nợ lớn. Ở mức độ xấu nhất là ngân hàng kinh doanh bị thua lỗ, khách hàng không còn tin tưởng, lo sợ và kéo đến rút tiền hàng loạt. Khi đó, ngân hàng mất khả năng thanh toán bởi nguồn huy động hiện tại bị mất trong khi vốn giải ngân theo 10 cam kết không thể thu hồi ngay lập tức, không huy động được nguồn vốn khác, dẫn đến phải tuyên bố phá sản. Rủi ro tín dụng cũng tác động xấu đối đến với khách hàng.
Khách hàng gây ra rủi ro thì sẽ bị áp dụng lãi suất phạt, ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh, đồng thời mất đi nguồn vốn tài trợ từ ngân hàng cũng như cơ hội từ các tổ chức khác bởi uy tín, lịch sử trả nợ không tốt. Còn khách hàng gửi tiền có nguy cơ không nhận lại được số tiền đã gửi hoặc nhận lại số tiền bảo hiểm rất ít so với số tiền đã gửi, do ngân hàng hoạt động không tốt, thua lỗ, mất uy tín, không có khả năng chi trả, phá sản.