Chương 1 cụm từ “khu vực” được thể hiện trong các khái niệm diễn giải về khu đô thị, khu ở, khu vực bảo vệ công trình cụ thể : Khu đô thị: là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. Khu đô thị bao gồm: các đơn vị ở; các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó; có thể có các công trình dịch vụ chung của toàn đô thị hoặc cấp vùng. Khu ở: là một khu vực xây dựng đô thị có chức năng chính là phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt hàng ngày của người dân đô thị, không phân biệt quy mô. Khu vực bảo vệ công trình:là Khu vực bảo vệ của các công trình kỹ thuật hạ tầng; khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh 12 và các khu bảo tồn; khu vực bảo vệ công trình an ninh, quốc phòng; khu vực cách ly.
Theo nội dung dẫn ra này thì “Khu vực” là một không gian có quy mô từ bé đến lớn vậy đường khu vực là đường thuộc khoảng giới hạn nào ? Trong Chương II (Quy hoạch không gian) [3] nêu các khái niệm về vùng, phân vùng và tiểu vùng (Mục 2.1) nhưng không giải thích vùng, phân vùng và tiểu vùng là gì ? chúng có mối liên hệ gì với khu vực ?. Trở lại với Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009 tại Điều 18 cho thấy có 3 loại quy hoạch đô thị: Quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết; trong đó “Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực trong thành phố, thị xã và đô thị mới” và khái niệm này được tìm đến ở Điều 23 - Luật Quy hoạch đô thị : “Nhiệm vụ quy hoạch phân khu phải xác định phạm vi ranh giới, diện tích, tính chất khu vực lập quy hoạch, chỉ tiêu dự kiến về dân số, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật; yêu cầu, nguyên tắc cơ bản về phân khu chức năng…” có nghĩa là “việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung” (Mục 8. Điều 3 - Luật Quy hoạch đô thị). Như vậy có thể hiểu “Khu vực” là “Khu chức năng trong đô thị”.
Đến đây câu hỏi đặt ra đô thị có những loại khu chức năng nào? Chức năng chuyên ngành và chức năng tổng hợp có được phân biệt để áp dụng vào quy hoạch giao thông hay không ? Chúng tôi xin trích dẫn Mục 2.3 Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị của [3] quy định các khu chức năng đô thị bao gồm: 13 “Các khu vực xây dựng các công trình sử dụng hỗn hợp (nhà ở, hành chính, dịch vụ, sản xuất không độc hại…); Các khu vực xây dựng nhà ở; Các khu vực xây dựng các công trình dịch vụ đô thị: + Công trình hành chính các cấp của đô thị; + Các công trình dịch vụ đô thị các cấp như: giáo dục phổ thông, dạy nghề, y tế, văn hóa, TDTT, thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông, tin học, văn phòng…; Các khu vực xây dựng các khu cây xanh công viên, vườn hoa đô thị; Các khu vực xây dựng các công trình hành chính ngoài cấp quản lý hành chính của đô thị; Các khu chức năng ngoại giao; Các viện nghiên cứu, trường chuyên nghiệp, bệnh viện chuyên ngành cấp ngoài đô thị; Các khu sản xuất phi nông nghiệp: công nghiệp, kho tàng, bến bãi (chứa hàng hóa), lò mổ gia súc…; Các khu vực xây dựng công trình tôn giáo, tín ngưỡng; Các khu vực xây dựng các công trình giao thông, bao gồm: giao thông nội thị và giao thông đối ngoại (mạng lưới đường giao thông, nhà ga, bến tàu, bến xe đối ngoại, cảng đường thủy, cảng hàng không…); Các khu vực xây dựng các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật đô thị và các khoảng cách an tòan về môi trường (nghĩa trang, cấp điện, cấp và thoát nước, xử lý nước thải, xử lý rác thải, phòng chống cháy.); Các khu vực đặc biệt (khu quân sự, an ninh .); 14 Các khu vực cây xanh chuyên dùng: vườn ươm, cây xanh nghiên cứu, cây xanh cách ly.; Các khu chức năng đô thị khác”. Qua đoạn trích dẫn trên đây thì một số vấn đề khác đặt ra : Quy mô của “Khu vực” (Khu chức năng) là bao nhiêu ? chúng ta có thể được giải đáp một phần khi xem các mục từ 2.8 của tài liệu này [3]. Tuy nhiên dễ dàng chúng ta có thể nhận xét được: Khái niệm về khu vực được gắn liền với chức năng sử dụng đất mà chức năng sử dụng đất thì khác nhau về loại khu vực, nhu cầu, đặc điểm … do đó khó có thể quy ước khu vực có chức năng khác nhau lại có chung ngưỡng về quy mô. Ngay cả khi khu vực có cùng một chức năng mà nhu cầu sử dụng đất khác nhau thì quy mô diện tích khu vực cũng khác nhau.
Vì khái niệm khu vực là một khu chức năng cho nên có thể đòi hỏi sự tương đồng về hình thái, hình dạng khu vực. Ví dụ khi nói về giao thông của khu chức năng đô thị là các khu vực xây dựng các công trình giao thông bao gồm giao thông nội thị và giao thông đối ngoại thì có tương đồng với khu chức năng là khu ở hay không ?… Với 2 nhận xét trên đây cho thấy tên gọi cấp đường, loại đường trong QCXDVN 01: 2008/BXD và bảng quy định về hệ thống đường đô thị của Quy chuẩn còn nhiều bất cập cả về hình thức và bản chất. Quan trọng hơn là người quy hoạch và thiết kế đô thị nếu không trải qua kinh nghiệm sẽ lẫn lộn nhiều giá trị cơ bản trong quy hoạch. - Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị QCVN 07: 2010/BXD [4] 15 Quy chuẩn [4] đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến phân loại đường bộ như sau: “ Đường ngoài đô thị là đường chạy ngoài phạm vi đô thị.
Đường đô thị là đường nằm trong phạm vi đô thị, thuộc mạng lưới giao thông nội thị. Đường cao tốc đô thị là đường trục cấp đặc biệt, phục vụ giao thông đô thị với tốc độ cao, giao thông liên tục không bị gián đoạn ở các nơi giao cắt, an toàn giao thông cao. Đường trục chính đô thị là đường trục chính của toàn đô thị hoặc một khu đô thị lớn và nối với đường cao tốc hay đường vành đai đô thị. Đường trục đô thị là đường trục phục vụ giao thông trong khu đô thị và nối với đường trục chính đô thị.
Đường trục khu đô thị bao gồm cả đường ngang và đường bên có chức năng thu gom lượng giao thông từ hệ thống đường nội bộ khu đô thị lên đường trục chính đô thị, nhằm ngăn không cho các phương tiện giao thông tự do ra vào đường trục chính đô thị.” Dưới đây là khung phân cấp đường đô thị [4] như quy định ở bảng 1. Phân cấp đường ô tô đô thị Tốc độ Lưu lượng Cấp Cấp đường theo thiết kế giao thông Chức năng đường chức năng (VTK, (xeqđ/ng.đ) Km/h) Dùng ở các thành phố lớn, đô thị loại đặc biệt. Để phục vụ giao thông với tốc độ cao, giao thông liên tục và thời 1. Đường cao tốc gian hành trình ngắn giữa các khu vực Cấp đô 50.000 - đô thị 80 - 100 chính của thành phố, giữa thành phố thị 70.000 (Express way) và khu công nghiệp lớn nằm ngoài phạm vi thành phố, giữa thành phố với các cảng hàng không, cảng sông, cảng biển.
Đường trục 80 - 100 Phục vụ giao thông có ý nghĩa toàn đô 20.000 - chính đô thị 50.000 thị, nối các trung tâm dân cư lớn, các (Urban Arterials) khu công nghiệp lớn, nhà ga, bến 3.000 - cảng, sân vận động, nối với đường cao 80 - 100 tốc và các đường quốc lộ.000 Phục vụ giao thông có ý nghĩa liên 4.000 - khu, nối các khu dân cư, các khu công 60 - 80 khu vực 30.000 nghiệp, trung tâm công cộng với nhau và nối với đường trục chính đô thị. Phục vụ giao thông có ý nghĩa nội bộ 5. Đường chính 50 - 60 các khu vực, các quận của đô thị. Cấp khu khu vực 10.000 - Nối các khu trên với đường trục đô thị vực 6.000 40 - 50 và đường trục khu vực (gọi là đường vực “gom” (Collector)).
Đường phân 30 - 40 khu vực Phục vụ giao thông trong nội bộ các Cấp nội 8. Đường nhóm đơn vị ở, ngõ phố, nhóm nhà. Nối các - 20 - 30 bộ nhà ở, vào nhà đường trong nội bộ đơn vị ở với các - 9. Đường xe đạp đường ngoài đơn vị ở.
- Đường đi bộ Khi so sánh nội dung của [4] & [3] cho thấy có nhiều điểm chung về phân cấp đường và chỉ tiêu về lưu lượng hay tốc độ kèm theo. Dễ thấy có một số tên gọi khác nhau. Mặc dù QCVN 07: 2010/BXD nêu kèm theo cấp đường là chức năng nhưng chưa làm rõ được đặc trưng của chức năng: Ví dụ khi nói Đường trục chính đô thị và đường trục đô thị cùng có chức năng “Phục vụ giao thông có ý nghĩa toàn đô thị, nối các trung tâm dân cư lớn, các khu công nghiệp lớn, nhà ga, bến cảng, sân vận động, nối với đường cao tốc và các đường quốc lộ” thì e rằng còn ngược với khái niệm của cùng 2 loại đường vừa nêu ra ở trên. Hơn nữa cũng như phần nhận xét về [3] để hiểu cho hết những khái niệm về khu vực, liên khu vực để vận dụng không phải đơn giản.
Theo chúng tôi nội dung 17 về chức năng nêu ra trong [4] là những đặc điểm, tính chất hay chức năng phụ (biểu hiện) mà thôi. Vì vậy, nếu phân biệt không rõ ràng về chức năng sẽ kéo theo những quy định vị trí đường và liên hệ nối sai sót. Thực tế trục đường Trần Duy Hưng - Văn Cao tại Hà Nội có chiều dài khoảng 5 Km mà có tới khoảng 170 chỗ giao cắt và ra vào thì người quy hoạch đã vận dụng quy định nào trong quy chuẩn này ?. Hơn nữa Việt Nam là một nước thành viên ASEAN khung phân loại này hầu hết không hợp với các nước thành viên.
Điều này cũng thể hiện trong bảng 1.4 một số tên gọi tại sao không dịch được sang tiếng Anh ?