Tổng quan nghiên cứu

Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với cân bằng sinh thái, bảo tồn nguồn nước và phát triển kinh tế - xã hội. Tại tỉnh Cao Bằng, theo Quyết định số 120/QĐ-SNN ban hành ngày 26/02/2019 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích đất có rừng tính đến ngày 31/12/2018 đạt 364.689,30 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 348.269,34 ha, rừng trồng chiếm 16.419,96 ha, nâng độ che phủ rừng lên mức 54,43%. Tuy nhiên, tài nguyên rừng tại địa phương đang đối mặt với hiểm họa cháy rừng nghiêm trọng trong mùa khô hanh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Thống kê giai đoạn 2013 - 2018 cho thấy toàn tỉnh đã xảy ra 141 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại lên tới 176,9 ha, trung bình mỗi năm xảy ra 17,6 vụ cháy làm mất 22,11 ha rừng. Riêng năm 2015, số vụ cháy bùng phát lên đến 59 vụ, gây tổn thất 64,57 ha rừng, tăng gấp 3 lần so với mức bình quân các năm trước.

Thông mã vĩ (Pinus massoniana) là loài cây trồng rừng chủ lực chiếm diện tích lớn nhất tại Cao Bằng, mang lại giá trị kinh tế cao từ gỗ và nhựa. Dù vậy, lá và cành thông có chứa hàm lượng nhựa rất lớn từ 2% đến 12%, khiến vật liệu rơi rụng dưới tán rừng rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên, tạo thành lớp thảm khô dày đặc và cực kỳ dễ bắt lửa. Các giải pháp xử lý vật liệu cháy truyền thống như đốt trước có điều khiển hay dọn thực bì thủ công bộc lộ nhiều nhược điểm về nguy cơ cháy lan mất kiểm soát, làm kiệt quệ dinh dưỡng trong đất và tiêu diệt hệ sinh thái đất.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài tập trung phân lập, tuyển chọn các chủng vi sinh vật bản địa có khả năng phân giải xenlulo mạnh mẽ trong môi trường chứa nhựa thông. Mục tiêu cụ thể là xây dựng cơ sở khoa học và quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học giúp phân hủy nhanh vật liệu cháy, gia tăng độ ẩm nền rừng và chuyển hóa thảm khô thành phân hữu cơ cải tạo đất. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã trọng điểm gồm Đình Phong, Chi Viễn, Phong Châu và Khâm Thành thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa to lớn trong việc giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trên 30% đến 40% và nâng cao tính bền vững cho hệ sinh thái rừng trồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tam giác lửa trong lâm nghiệp do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cùng các nhà khoa học lâm sinh quốc tế phát triển. Theo lý thuyết này, sự hình thành và phát triển của đám cháy rừng đòi hỏi sự hiện diện đồng thời của ba thành tố: nguồn nhiệt, oxy và vật liệu cháy. Trong đó, khối lượng và độ ẩm của vật liệu cháy là hai yếu tố con người có thể chủ động kiểm soát bằng các tác động sinh học và lâm sinh nhằm triệt tiêu nguy cơ bùng phát ngọn lửa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết xúc tác enzyme sinh học trong quá trình phân giải hợp chất hữu cơ cao phân tử. Xenlulo là thành phần polysaccharide chính cấu tạo nên vách tế bào thực vật với khối lượng sinh khối ước tính hơn 1,5 x 10^12 tấn trên toàn cầu mỗi năm. Quá trình sinh học phân hủy hoàn toàn xenlulo đòi hỏi hoạt động đồng bộ của phức hệ enzyme cellulase bao gồm endoglucanase, exoglucanase và beta-glucosidase do các chủng vi sinh vật tổng hợp. Trong đề tài, bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: vật liệu cháy dưới tán rừng, hoạt tính enzyme Carboxymethyl cellulase (CMC-aza), chế phẩm sinh học phòng cháy rừng và quá trình chuyển hóa hữu cơ sinh học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm nghiêm ngặt kết hợp giữa khảo sát thực địa lâm nghiệp và phân tích vi sinh học phân tử hiện đại:

  • Phương pháp điều tra vật liệu cháy: Nghiên cứu thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình hình chữ nhật có diện tích 500 m2 (25 m x 20 m) tại 4 xã thuộc huyện Trùng Khánh. Trong mỗi OTC, 5 ô dạng bản diện tích 1 m2 (1 m x 1 m) được bố trí tại 4 góc và 1 ô ở trung tâm nhằm thu thập đại diện cho 3 cấp tuổi rừng thông mã vĩ gồm 7 tuổi, 14 tuổi và 23 tuổi. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ vật liệu cháy có đường kính nhỏ hơn 1 cm trong ô dạng bản, được thu gom và cân đo với độ chính xác đến 1 g để quy đổi khối lượng ra đơn vị tấn/ha.
  • Phương pháp phân lập và tuyển chọn vi sinh vật: Tổng cộng 20 mẫu đất và mùn thảm mục được thu thập ngẫu nhiên dưới tán rừng thông. Kỹ thuật phân lập thực hiện theo phương pháp pha loãng tới hạn của Skinner (1960) từ nồng độ 10^-1 đến 10^-6 trên môi trường thạch Hans và Gauze I biến tính, ủ ở nhiệt độ 28°C trong 24 đến 48 giờ. Hoạt tính phân giải xenlulo được đánh giá qua thử nghiệm CMC-aza theo Williams (1983) có bổ sung nhựa thông để sàng lọc các chủng chịu nhựa, dựa trên đường kính vòng phân giải trong suốt (D).
  • Phương pháp định danh sinh học phân tử: Các chủng vi khuẩn ưu tú nhất được tách chiết ADN tổng số, khuếch đại đoạn gen 16S rRNA bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi chuyên biệt 16s27F và 16s1492R. Sản phẩm giải trình tự được so sánh độ tương đồng trên ngân hàng gen quốc tế GenBank/EMBL qua công cụ BLAST. Cây phát sinh chủng loại được xây dựng bằng phần mềm MEGA 7 với thuật toán Neighbor-Joining và kiểm tra độ tin cậy qua 1.000 lần lặp bootstrap. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định loại chính xác tới cấp độ loài và kiểm chứng độ an toàn sinh học của chủng vi khuẩn.
  • Phương pháp thử nghiệm thực địa và chế phẩm: Đánh giá hiệu lực phân hủy qua thí nghiệm bình tam giác chứa 200 g thảm khô và quy mô chậu vại 10 kg vật liệu cháy trong 60 ngày. Nghiên cứu điều kiện lên men tối ưu (môi trường, tốc độ lắc 150 vòng/phút, thời gian 72 giờ, nhiệt độ 28°C, pH 4,0 đến 9,0) và thử nghiệm 7 công thức liều lượng chế phẩm (từ 0,125% đến 2,0%) trên các đống ủ thực tế 500 kg thảm khô theo dõi liên tục trong 5 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm đã mang lại những kết quả định lượng cụ thể:

  • Khối lượng vật liệu cháy tích lũy theo tuổi rừng: Khối lượng vật liệu cháy dưới tán rừng thông mã vĩ tăng dần theo độ tuổi của lâm phần. Rừng thông 7 tuổi (mật độ 1.250 cây/ha, đường kính D1.3 đạt 9,1 cm, chiều cao Hvn đạt 5,2 m) có tổng khối lượng vật liệu cháy là 22,7 tấn/ha, trong đó thảm khô chiếm 13,4 tấn/ha. Rừng thông 14 tuổi (mật độ 900 cây/ha, D1.3 đạt 13,8 cm, Hvn đạt 12,2 m) có tổng khối lượng vật liệu cháy đạt 26,2 tấn/ha với thảm khô là 16,0 tấn/ha. Rừng thông 23 tuổi (mật độ 800 cây/ha, D1.3 đạt 20,3 cm, Hvn đạt 13,2 m) có khối lượng vật liệu cháy cao nhất đạt 27,3 tấn/ha, trong đó thảm khô chiếm 15,8 tấn/ha.
  • Đa dạng nguồn vi sinh vật phân lập: Từ 20 mẫu đất và thảm mục tại 4 xã, nghiên cứu đã phân lập được 38 chủng vi sinh vật. Tỷ lệ phân bố tại xã Đình Phong cao nhất với 20 chủng (chiếm 52,6%), xã Chi Viễn đạt 7 chủng (chiếm 18,4%), xã Phong Châu đạt 6 chủng (chiếm 15,8%) và xã Khâm Thành đạt 5 chủng (chiếm 13,2%).
  • Năng lực phân giải xenlulo của các chủng: Trong tổng số 38 chủng phân lập, có 21 chủng thể hiện khả năng phân giải xenlulo (chiếm 55,3%). Đáng chú ý, có 5 chủng vi khuẩn thể hiện hiệu lực rất mạnh với đường kính vòng phân giải D đạt từ 35 mm trở lên bao gồm CBK8 (36 mm), CBK11 (35 mm), CBK12 (35 mm), CBK17 (36 mm) và CBK31 (36 mm). Ngoài ra, có 2 chủng đạt mức mạnh (25 mm đến 35 mm, chiếm 5,3%), 6 chủng đạt mức trung bình (chiếm 15,8%) và 7 chủng ở mức yếu (chiếm 18,4%).
  • Khả năng thích ứng sinh thái: Các chủng vi sinh vật tuyển chọn có biên độ nhiệt sinh trưởng từ 15°C đến 35°C, sinh trưởng tối ưu trong khoảng 25°C đến 30°C. Điển hình, chủng CBK8 đạt đường kính khuẩn lạc 3,5 cm ở 25°C và 3,1 cm ở 30°C. Các chủng này duy trì khả năng sống và hoạt tính enzyme ổn định trong dải độ ẩm không khí từ 60% đến 100%. Kết quả giải trình tự gen 16S rRNA xác định các chủng ưu tú như CBK8, CBK11, CBK12 thuộc chi Bacillus, đảm bảo tính an toàn sinh học cao đối với người và môi trường.

Thảo luận kết quả

Khối lượng thảm khô tích tụ dưới tán rừng thông mã vĩ tại Cao Bằng dao động từ 13,4 đến 16,0 tấn/ha, vượt xa ngưỡng an toàn phòng cháy rừng thông thường theo quy định của ngành lâm nghiệp (dưới 10 tấn/ha). Tốc độ tích lũy cao này bắt nguồn từ cấu trúc lá thông hình kim giàu chất sáp và nhựa (chiếm 2% đến 12%), làm ức chế hoạt động của các vi sinh vật hoại sinh thông thường trong đất. Kết quả phân lập thành công các chủng vi khuẩn Bacillus bản địa có khả năng tiết enzyme CMC-aza mạnh ngay trong môi trường bổ sung nhựa thông đã mở ra triển vọng lớn cho công nghệ sinh học xử lý thực bì.

So sánh với phương pháp đốt trước có điều khiển (theo Quyết định số 4110 QĐ/BNN-KHCN), việc sử dụng chế phẩm sinh học từ các chủng vi khuẩn tuyển chọn mang lại lợi ích môi trường vượt trội. Phương pháp đốt trước đòi hỏi điều kiện thời tiết khắt khe (gió dưới 10 km/h, độ ẩm trên 60%) và làm mất đi toàn bộ nguồn đạm hữu cơ, photpho và kali tích tụ trong thảm lá. Ngược lại, quá trình xử lý sinh học với liều lượng 0,5% đến 1,0% chế phẩm giúp làm mềm cấu trúc xenlulo, giữ ẩm thảm mục trên 45% và rút ngắn thời gian hoai mục xuống còn 60 ngày. Dữ liệu thực nghiệm này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột so sánh tốc độ giảm khối lượng thảm khô giữa công thức bổ sung vi sinh và đối chứng, cùng đồ thị đường thể hiện tương quan giữa nhiệt độ lên men và mật độ tế bào vi khuẩn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý và bảo vệ rừng tại Cao Bằng, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Chuẩn hóa quy trình sản xuất chế phẩm sinh học quy mô công nghiệp: Nhân sinh khối các chủng vi khuẩn ưu tú (Bacillus sp. CBK8, CBK11, CBK12) trên môi trường dịch thể dinh dưỡng tối ưu ở tốc độ lắc 150 vòng/phút, nhiệt độ 28°C, pH từ 6,5 đến 7,0 trong thời gian 72 giờ. Sử dụng chất mang hữu cơ từ than bùn hoặc mùn đất đã khử trùng để phối trộn đạt mật độ tế bào sống tối thiểu 10^7 CFU/g. Đơn vị chủ trì thực hiện là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cao Bằng với lộ trình hoàn thiện trong 12 tháng.
  2. Ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý thực bì tại hiện trường: Triển khai phun hoặc rải chế phẩm sinh học với liều lượng khuyến cáo từ 0,5% đến 1,0% khối lượng vật liệu cháy khô vào cuối mùa mưa (tháng 9 đến tháng 10 hàng năm). Mục tiêu là giảm 30% đến 40% khối lượng vật liệu cháy tinh và nâng độ ẩm thảm mục lên trên 45% trước khi bước vào cao điểm hanh khô. Trách nhiệm thực hiện thuộc về các Ban quản lý rừng phòng hộ và chủ rừng trên địa bàn.
  3. Thiết lập mô hình điểm quản lý vật liệu cháy sinh thái: Xây dựng 3 mô hình thí điểm với quy mô từ 50 ha đến 100 ha tại huyện Trùng Khánh nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật lâu dài của chế phẩm vi sinh kết hợp với các băng cản lửa xanh. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng chủ trì phê duyệt và bố trí nguồn kinh phí thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2023.
  4. Đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho cộng đồng vùng đệm: Tổ chức 10 lớp tập huấn kỹ thuật cho trên 500 hộ nhận khoán bảo vệ rừng tại 4 xã Đình Phong, Chi Viễn, Phong Châu, Khâm Thành về kỹ năng thu gom cành lá thông và ủ phân hữu cơ vi sinh tại chỗ. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng chịu trách nhiệm điều phối hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp: Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác về khối lượng vật liệu cháy và giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng thân thiện với môi trường, giúp các cơ quan ban ngành xây dựng đề án phòng chống cháy rừng thay thế biện pháp đốt trước rủi ro cao.
  • Các viện nghiên cứu và nhà khoa học chuyên ngành công nghệ sinh học lâm nghiệp: Tài liệu cung cấp quy trình chi tiết về phân lập, sàng lọc vi sinh vật chịu nhựa thông, phương pháp định danh gen 16S rRNA và đánh giá hoạt tính enzyme CMC-aza trong điều kiện môi trường kiểm soát.
  • Doanh nghiệp sản xuất phân bón và chế phẩm vi sinh nông lâm nghiệp: Dữ liệu về thông số lên men (150 vòng/phút, 72 giờ, mật độ 10^7 CFU/g) và công thức phối trộn chất mang hữu cơ là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật giá trị để thương mại hóa các dòng chế phẩm xử lý phế phẩm lâm nghiệp.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn điều tra thực bì, kỹ thuật thống kê xử lý số liệu sinh học và xây dựng giải pháp lâm sinh kết hợp công nghệ sinh học hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vật liệu cháy dưới tán rừng thông mã vĩ lại khó phân hủy tự nhiên và có nguy cơ cháy rất cao? Lá thông mã vĩ chứa hàm lượng nhựa và tinh dầu từ 2% đến 12%, có đặc tính kháng khuẩn tự nhiên và chống thấm nước, khiến thảm khô tích tụ dày đặc từ 13,4 đến 16,0 tấn/ha. Khi bước vào mùa khô hanh, lượng tinh dầu này biến thảm mục thành chất dẫn cháy mạnh, dễ bốc cháy ở nhiệt độ chỉ từ 80°C đến 120°C.

Biện pháp phân hủy sinh học bằng vi sinh vật có điểm gì vượt trội so với phương pháp đốt trước có điều khiển? Phương pháp đốt trước đòi hỏi lực lượng túc trực từ 7 đến 10 người/tổ, tiềm ẩn nguy cơ cháy lan khi gió vượt 10 km/h và làm thất thoát toàn bộ dinh dưỡng hữu cơ. Ngược lại, giải pháp sinh học an toàn tuyệt đối, giúp giữ ẩm nền rừng và chuyển hóa thảm khô thành nguồn phân mùn giàu đạm, photpho cải tạo đất.

Tiêu chuẩn nào được áp dụng để tuyển chọn các chủng vi sinh vật phân giải xenlulo có hiệu lực rất mạnh? Nghiên cứu sử dụng phương pháp xác định hoạt tính enzyme CMC-aza trên môi trường thạch chuyên dụng có bổ sung nhựa thông. Các chủng được đánh giá có hiệu lực rất mạnh khi tạo ra vòng phân giải trong suốt có đường kính D đạt từ 35 mm trở lên, điển hình như chủng CBK8 và CBK17 đạt 36 mm.

Các chủng vi khuẩn phân lập có khả năng thích ứng như thế nào với điều kiện thời tiết tại Cao Bằng? Các chủng vi khuẩn thuộc chi Bacillus tuyển chọn có khả năng sinh trưởng ổn định trong dải nhiệt độ rộng từ 15°C đến 35°C (tối ưu ở 25°C đến 30°C, đường kính khuẩn lạc đạt 3,5 cm) và duy trì hoạt tính trong điều kiện độ ẩm từ 60% đến 100%, hoàn toàn thích nghi với đặc điểm khí hậu 4 mùa tại Cao Bằng.

Liều lượng và thời điểm sử dụng chế phẩm sinh học ngoài hiện trường được khuyến nghị ra sao? Liều lượng tối ưu qua thực nghiệm là từ 0,5% đến 1,0% khối lượng chế phẩm so với khối lượng vật liệu cháy khô. Thời điểm xử lý hiệu quả nhất là vào cuối mùa mưa (tháng 9 đến tháng 10 hàng năm), giúp phân hủy 30% đến 40% thảm mục và duy trì độ ẩm an toàn trước mùa hanh khô.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã giải quyết thành công bài toán phòng chống cháy rừng thông mã vĩ bằng công nghệ sinh học thông qua 5 kết quả cốt lõi:

  • Xác định chính xác thực trạng tích lũy vật liệu cháy dưới tán rừng thông mã vĩ tại Trùng Khánh, Cao Bằng dao động từ 22,7 đến 27,3 tấn/ha, vượt ngưỡng an toàn cháy rừng.
  • Phân lập thành công 38 chủng vi sinh vật bản địa từ đất và thảm mục, trong đó 21 chủng (55,3%) có khả năng phân giải xenlulo trong môi trường chứa nhựa thông.
  • Tuyển chọn 5 chủng vi khuẩn ưu tú thuộc chi Bacillus (CBK8, CBK11, CBK12, CBK17, CBK31) có hoạt tính CMC-aza rất mạnh với đường kính vòng phân giải đạt từ 35 mm đến 36 mm.
  • Xác lập bộ thông số công nghệ tối ưu để nhân nuôi sinh khối (tốc độ lắc 150 vòng/phút, 72 giờ, 28°C, pH 7,0) và phối trộn chất mang hữu cơ đạt mật độ 10^7 CFU/g.
  • Xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học với liều lượng 0,5% đến 1,0%, giúp giảm thiểu 30% đến 40% khối lượng thảm khô và tăng độ phì cho đất rừng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là tạo lập cơ sở khoa học vững chắc cho việc sản xuất chế phẩm sinh học phòng cháy rừng bản địa hóa đầu tiên tại Cao Bằng. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các cơ quan chức năng cần tiếp tục triển khai mở rộng ứng dụng trên quy mô 500 ha rừng thông trọng điểm. Các chủ rừng và đơn vị quản lý lâm nghiệp hãy chủ động áp dụng quy trình công nghệ sinh học này để bảo vệ tài nguyên rừng an toàn và bền vững.