CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1. SY’ PHAN BO CUA VI SINH VAT TRONG DAT [2], [8], [12] Dat va VSV dat cé méi quan hệ mật thiết với nhau. Đất là môi trường thích hợp nhất đối với VSV. Ngoài ra, nhiệt độ, độ âm, pH đất cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của VSV, số lượng và kết cấu khu hệ VSV thường xuyên thay đồi tùy.
theo từng vùng sinh thái, từng loại đất, độ cao. Sự phân bố của VSV trong đất có thể chia ra theo các kiểu phân loại sau đây: 1. Phân bố theo đặc điểm và tính chất của đất Các loại đất khác nhau có điều kiện dinh dưỡng, độ ẩm, độ thoáng khí, pH khác nhau. Vì vậy sự phân bố của VSV cũng khác nhau.
Đất giàu dinh dưỡng, thoáng khí, có độ am, độ pH thích hợp thì VSV phát triển tốt, dẫn đến số lượng nhiều. Ngược lại, đất nghèo dinh dưỡng, khô cằn, kết cấu đất chặt thì VSV ít. Đất vùng đồi núi do bị rửa trôi, xói mòn mạnh, đất nghèo dinh dưỡng nên số lượng VSV ít hơn đất vùng đồng bằng [2], [12]. Ở đất lúa nước, tình trạng ngập nước lâu ngày làm ảnh hưởng đến độ thoáng khí, chế độ nhiệt, chất dinh dưỡng trong đắt.
Chỉ có một lớp mỏng ở trên, khoảng 0- 3 em là có quá trình ôxy hóa. Còn ở tầng dưới quá trình khử ôxy chiếm ưu thế. Bởi vậy, trong đất lúa nước các loại VSV kị khí phát triển mạnh và có số lượng nhiều hơn VSV hiếu khí Ở đất trồng hoa màu, không khí lưu thông tốt, quá trình ôxy hóa chiếm ưu thế, do vậy các loài VSV hiếu khí phát triển mạnh hơn các loài VSV kị khí. Tỷ lệ giữa vi khuẩn hiểu khí và ki khí thường lớn hơn 1.
Phân bố theo chiều sâu Số lượng và thành phần VSV trong đất thay đôi theo độ sâu của các tầng đất Trên bề mặt đắt chịu tác động trực tiếp của ánh nắng mặt trời và độ ẩm không thích hợp nên số lượng và thành phần VSV rất ít do không phát triển hoặc bị tiêu diệt. 'VSV thường tập trung nhiều nhất ở tằng canh tác, ở độ sâu 5 - 20cm so với bề mặt. Bởi đây, là nơi tập trung các rễ cây, chất dinh dưỡng, có cường độ chiếu sáng, nhiệt độ, độ ẩm thích hợp nhất. Càng xuống sâu VSV càng ít, chủ yếu là loại kị khí, chịu được áp suất lớn.
Riêng đối với đắt bạc màu, ở tằng đắt 20 - 40cm có số lượng VSV nhiều hơn tầng 5 - 20cm do có nhiều chất hữu cơ vì ít có hiện tượng rửa trôi. Tuy nhiên, sau đó giảm dần ở các tầng đất dưới. Thành phần VSV cũng thay đổi theo tầng đất: ở tầng mặt vì có nhiều ôxy nên thường tập trung các nhóm VSV hiếu khí như vi khuẩn hiếu khí, vi nắm, xạ khuẩn. Càng xuống sâu, các nhóm VSV hiếu khí càng giảm mạnh.
Ngược lại, các nhóm vi khuẩn hị khí như vỉ khuẩn phan nitrat hóa phát triển mạnh ở độ sâu 20 - 40cm. ĐỘNG THÁI CỦA VI SINH VẬT ĐÁT [12] Một trong những đặc tính của VSV trong đất là tính mẫn cảm đối với môi trường sống, bởi vậy những thay đổi của môi trường sống đều ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sống của VSV đất. Thành phần và số lượng VSV trong đất diễn biến rất phức tạp, nó phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như nhiệt độ, độ ẩm đắt, độ ẩm không khí, theo địa hình, độ. sâu của loại đất, thành phần cơ giới đất,.
Động thái của vi sinh vật theo thời gian Thành phần và số lượng VSV đất đạt cực đại vào mùa xuân, khoảng tháng 3, 4; sau đó giảm vào mùa hè và tiếp tục tăng dần vào mùa thu và đạt cực tiểu vào chính đông. Lý do của sự tăng giảm này là do thời tiết, khí hậu như nhiệt độ và độ ẩm trong đất, ngoài ra còn phụ thuộc rất lớn vào quá trình khoáng hóa trong đất. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, vào mùa xuân, tổng số VSV đạt 10”~ 10” TB/g dat vào tháng 3 đến tháng 5. Lúc này nhiệt độ trong dat rat thích hợp cho VSV.
phát triển, sẽ làm gia tăng hoạt động sống của VSV làm cho quá trình khoáng hóa đất sẽ tăng theo, đồng thời cũng làm tăng sự hòa tan của các chất khoáng - sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy, chuyển hóa trên cho ra rất nhiều dinh dưỡng, cung cấp cho VSV phát triển mạnh, dẫn đến số lượng VSV đạt cực đại 'Vào mùa hè, trời hanh khô, nóng bức, không thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của VSV, nhất là trên đất xám bạc màu. Thời tiết khô hạn ảnh hưởng xấu đến VSV, dẫn đến số lượng VSV vào mùa hè (tháng 7, 8) thấp hơn ở chính giữa mùa xuân. 'Vào mùa thu, thời tiết dịu mát, không nắng gay gắt như mùa hè làm cho hoạt động sống của VSV cũng có phần được cải thiện, dẫn đến số lượng VSV ở màu thu cao hơn chút ít so với mùa hè. 'Vào mùa đông, tiết trời lạnh, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của VSV, dẫn đến số lượng VSV vào mùa đông là thấp nhất trong năm.
Ở trên một số loại đất, két qua phan tich chi dat 10*— 10° TB/g dat. Động thái của h vật theo độ âm Đông thái của VSV dao động rất lớn theo độ ẩm không khí và độ ẩm môi trường đất. VSV trong đất phát triển mạnh ở độ ẩm môi trường khoảng 50 ~ 60%, nằm ngoài khoảng độ âm này đều ảnh hưởng đến hoạt động sống của VSV [4]. Độ âm quá thấp hoặc quá cáo đều ức chế VSV, chỉ có nắm mốc và xạ khuẩn là có thể phát triển được ở điều kiện khô.
Ở các ruộng lúa nước, các loại vi khuẩn đã thích hợp với độ âm cao, tuy nhiên, những ruộng có tính thấm nước cao được làm ải, sự phát triển của VSV cũng tốt hơn, đặc biệt là cân đối được tỉ lệ giữa VSV hiếu khí và VSV kị khí [1] [2]. Theo Lê Xuân Phương: độ âm trong đất cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của VSV đất. Đất vùng nhiệt đới thường có độ âm 30 - 85%, thích hợp với đa số VSV [12]. Vì thế, trong mỗi gam đất thường có hàng chục triệu đến hàng tỉ tế bào VSV bao gồm nhiều nhóm, khác nhau về vị trí phân loại cũng như hoạt tính sinh lý, sinh hóa.
Ngoài ra, VSV còn góp phần tham gia duy trì độ âm cho đất. Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ sinh học đã phân lập được một bộ going VSV màng nhầy có khả năng này. Ví dụ chủng nắm men ⁄ipomyces PT7.I được phân lập từ vùng đất trống đổi trọc tại huyện Hạ Hòa, tinh Phú Thọ có ưu điểm là tạo màng nhy trong điều kiện đất khô hạn và sinh trưởng ở nhiệt độ cao, đặc biệt hỗ trợ cho. việc phủ xanh đất trống đồi trọc [7] 1.
TONG QUAN VE ENZYME PHYTASE 1. Enzyme tir vi sinh vat [6], [7], [10] Tế bào VSV cé chita rat nhiều enzyme. Trong quá trình nuôi cấy các enzyme được tạo thành trong tế bào VSV gọi là enzyme nội bào và một số tiết vào môi trường là enzyme ngoại bào để phân huy co chat giúp cho tế bào đễ đồng hoá. VSV là nguồn sản xuất enzyme tương đối lý tưởng, nó có nhiều ưu việt so với các nguồn động vật và thực vật Vi tốc độ sinh sản của VSV rất nhanh, có thể thu được một khối lượng lớn tế bào trong thời gian ngắn, kích thước tế bào VSV nhỏ khối lượng nhỏ nên tỷ lệ enzyme trong tế bào là tương đối lớn.
Trong một thời gian ngắn có thể sản xuất được số lượng lớn chế phẩm enzyme. Cac enzyme của VSV có hoạt tính rất cao, người ta đã tính rằng trong 24 giờ có những VSV có thể chuyên hoá một lượng thức ăn gấp từ 30 đến 40 lần so với trọng lượng cơ thể của chúng. Những nguyên liệu dùng để nuôi cấy VSV thường rẻ tiền như bã thải công nghiệp, nguyên liệu tự nhiên (dầu mỏ, khí đốt.) Có thể điều khiên các điều kiện tối ưu trong quá trình nuôi cấy đề có thể thu. được hiện suất cao trong sản xuất.
Trong nhiều năm qua các chế phẩm enzyme từ 'VSV đã dần dần thay thế chế phâm enzyme lấy từ động vật, thực vật. Các chế phẩm enzyme được sản xuất từ VSV đã được ứng dụng trong trên 30 ngành công nghiệp khác nhau. Những enzyme đó chủ yếu là các enzyme thuỷ phân: Phytase, Amylase, Protease, phosphatase, xenlulase,. Khai quat vé enzyme phytase Phytase (myo-inositol hexakisphosphate hydrolases) là một nhóm enzyme đặc biệt trong số các enzyme phosphatase, có khả năng xúc tác cho phản ứng thủy phân từng bước acid phytic thành myo-inositol, các nhóm phosphate (Pi) và các myo-inositol phosphate trung gian (IP5, IP4, IP3, IP2, IP1) [23].
Trong một vài trường hợp phản ứng có thé giai phong myo-inositol tự do (Hình 1.1) An PO 2ihOPO- pros po)” no “ng Phytase, >= AF ọw Ca HO / —NSM +P+ Fe ~ pour I on Son Zn “OPouf Hình 1. Phân ting xiic tic ctia enzyme phytase Ủy ban danh pháp enzyme thuộc Hiệp hội Hóa sinh Quốc tế (The Enzyme Nomenclature Committee of the International Union of Biochemistry) phan loai phytase thanh hai dang 1a: Dang 1: kí higu (EC 3.8) Tén dé xudt: 3-phytase Tên phân loại: myo-inositol-hexakisphosphate 3 phosphohydrolase Tên khác: phytase; phytate-3-phosphatase Dạng 2: kí hiệu (EC 3.26) Tên đề xuất: 6-phytase Tên phân loại: myo-inositol-hexakisphosphate 6 phosphohydrolase Tên khác: phytase; phytate-6-phosphatase Sự phân loại này dựa trên cơ sở vị trí nhóm phosphat đầu tiên bị phytase tắn công. Enzyme 3-phytase (EC 3.8) tắn công vào nhóm phosphat ở vị trí thứ 3; đây là dang phytase dién hinh của vi sinh vat va enzyme 6-phytase (EC 3.26) tan công đầu tiên vào nhóm phốt phát số 6; đây là dạng điển hình cho phytase từ thực vật [24] Dựa trên pH hoạt động tối ưu, phytase được chia thành 3 loại: phytase ưa acid, ưa kiểm và trung tính. Ngoài ra, dựa vào cấu hình trung tâm hoạt động va co ché xtc tac, phytase được phân thành 3 loại khác nhau là: histidine acid phosphatase (HAP) phytases, - propeller phytase (BPP) và purple acid phosphatase (PAP) phytase [19] Phytase được phân bố rộng rãi trong tự nhiên bao gồm ở thực vật, động vật và các loài vi sinh vật.
Phytase có mặt ở nhiều loài vi sinh vật bao gồm cả vi khuẩn, nắm, nắm men và động vật nguyên sinh [10]. Từ các nguồn thu enzyme khiến điều kiện hoạt động của phytase không giống nhau.