Chương 1: Tổng quan tài liệu ~ Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả và thảo luận ~ Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. KHAI QUAT VE BO THU LINH TRUONG 1. Hệ thống phân loại thú linh trưởng trên thế giới Hệ thống phân loại thú linh trưởng trên thế giới đến nay còn nhiều vấn đề cần bàn và thảo luận thêm. Theo Sokolov (1973) bộ thú linh trưởng có I1 họ, 52 giống và 192 loài.
Hiện nay, hệ thống phân loại của Groves (2001) được sử dụng phổ biến nhất. Theo Groves, trên thế giới bộ thú linh trưởng có 14 họ, 65 giống và 351 loài [8]. Thành phần các lo: thú linh trưởng trên thế giới TT Họ Số giống Số loài 1 | Cheirogaleidae 5 17 2 | Lemuridae 5 18 3 | Melagadapidae 1 7 4 | Indridae 3 8 5 | Daubentoniidae 1 1 6 | Loridae 5 9 7 | Galagolidae 3 15 8 | Tarsiidae 1 8 9 | Cebidae 6 52 10 | Phheeiidae 4 25 11 | Atelidae 5 24 12 | Cercopithecidae 20 120 13 | Hylobatidae 1 14 14 | Hominidae 5 7 Nguôn: Đặng Huy Huỳnh và (2010), Thú rừng - Mammalia Việt Nam hình thái và sinh học sinh thái một số loài, tập II. Hệ thống phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam Trong hệ thống phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam đã có sự thống nhất cao ở cấp độ họ.
Các nhà phân loại học đa số nhất trí tại Việt Nam có 3 họ trong tổng số 14 họ trên thế giới: họ cu li (Loridae), họ khi (Cercopithecidae) và họ vượn (Hylobatidae). Trong họ khi (Cercopithecidae) có họ phụ khi (Cercopithecinae) và họ phụ voọc (Colobinae) [8]. Ở cấp độ loài hiện áp dụng phương pháp phân tích phân tử ADN và phân tích di truyền. Phương pháp này có ưu điểm là bổ sung, phát hiện thêm nhiều loài mới, khắc phục những hạn chế so với phương pháp phân loại truyền thống dựa vào đặc điểm hình thái [8].
Điển hình năm 1997, tại Việt Nam đã bổ sung thêm loài Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) boi Nadler, Văn Ngọc Thịnh bổ sung thêm loài Vượn má vàng Bắc (Nomacus annamensis) vào năm 2010 [38], [46] 1. SO LUQC LICH SU NGHIEN CUUTHU LINH TRUONG 6 VIET NAM Tình hình nghiên cứu thú linh trưởng ở Việt Nam phát triển theo từng thời kỳ và được bắt đầu sớm cùng với các nghiên cứu về thú nói chung chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX [8]. Lịch sử nghiên cứu thú linh trưởng ở Việt Nam có thể chia thành 3 thời kỳ sau: Thời kỳ thứ nhất (trước 1954), phần lớn các nghiên cứu tiến hành là các cuộc điều tra và thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới. Việc phân loại và thống kê thành phần loài do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện.
Các nghiên cứu ở giai đoạn này như: Finlayson (1828), Mine-Edwards (1867 - 1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 - 1898), Pavie (1879 - 1898), Boutan (1900 - 1906), Pousargues (1904), Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 - 1930), Stevens (1923 - 1924), Rooservelts (1928 - 1929), Bourret (1942, 1944). Trong thi ky nay, chua có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như bảo tồn các loài thú linh trưởng [8], [13]. Thời kỳ thứ hai (1954 — 1975), các nhà khoa học Viêt Nam tiến hành điều tra thành phần loài và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của thú linh trưởng ở một số tỉnh miền Bắc. Những năm 1957 - 1960, các nghiên cứu diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp và chủ yếu đẻ phục vụ cho công tác giảng dạy tại các trường Đại học, Cao đẳng.
Một số công trình nghiên cứu được công bố trong giai đoạn này như Đào Văn Tiến (1960), Võ Quý (1960). Sau năm 1960, công tác nghiên cứu bảo tồn thú linh trưởng được đây mạnh và có sự tham gia của nhiều nhà khoa học hơn như: Đào Văn Tiến (1970) nghiên cứu về các phân loài của loài Voọc đen má trắng (Presbyis /ancoisi) và đã mô tả một phân loài voọc mới - Voọc Hà Tĩnh (Pzesbyvis francoisi hatinhensis); Lê Hiền Hào (1973) xuất bản cuốn '“Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”; Đặng Huy Huynh và Đỗ Ngọc Quang (1962), Trần Hồng Việt (1964) bắt đầu nghiên cứu về nhóm thú linh trưởng [8], [13], [21]. Thời kỳ thứ 3 (sau 1975), các điều tra nghiên cứu và bảo tồn đa dạng. sinh học, đặc biệt đối với các loài thú linh trưởng được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước.
Nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về thú linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện, trong đó các nghiên cứu quan trọng dài hạn được tiến hành bao gồm: nghiên cứu của Hoàng Minh Đức trên loài Cha va chan den (Pygathrix nigripes), Đồng Thanh Hải trên loai Voge mii héch (Rhinopithecus avunculus), Hà Thăng Long trên loai Cha va chan xm (Pygathrix cinerea); Lé Khắc Quyét trén loai Voge mii héch (Rhinopithecus avunculus), Otto trên loài Cha va chan d6 (P. ĐA DẠNG THÚ LINH TRƯỞNG Ở VIỆT NAM Vigt Nam có mức độ đang dạng thú linh trưởng cao, với 25 loài thuộc 3 trong số Š họ thú linh trưởng của châu Á: họ vượn (Hylobatidae), họ khi (Cercopithecidae), ho cu li (Loridae) [38], [39]. Hai họ còn lại ở châu A không phân bố ở Việt Nam là họ vượn nhảy nhỏ (Tarsiidae) và họ đười ươi (Hominidae) phân bố hẹp tại các đảo của thềm lục địa Sunda [16]. Trong số 25 loài, có 05 loài đặc hữu của Việt Nam: Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voge Cát Bà (T.
poliocephalus), Chà vá chân xam (Pygathrix cinerea), Voọc mii héch (Rhinopithecus avunculus), Vugn đen Tây Bắc (Nomascus concolor) {16}, [38]. Ho cu li (Loridae) chi c6 1 giéng (Nycticebus) véi hai loài: Cu li lớn (Wyetieebus bengalensis) và Cu lì nhỏ (N. Có thể có loài thứ ba nhưng loài này chưa được mô tả [16], [38]. Họ khi (Cercopithecidae) có hai phân họ: phân họ khi (Cercopithecinae) và phân ho vooc (Colobinae) véi 4 giéng: Macaca, Trachypithecus, Pygathrix va Rhinopithecus.
Họ này có số loài và phân loài phong phú nhất, với 21 loài và phân loài [8], [40]. Phân họ khi (Cercopithecinae) chỉ có 1 giống A#acaca gồm 09 loài và phan loai: Khi mat d6 (Macaca arctoides), Khi méc (M. assamensis), Khi dudi dai (M. fascicularis), Khi duéi lon Bac (M.
leonina), Khi vang (M. mulatta), phan loai Khi ¢ (M. assamensis assamensis) theo Clelland (1840), phân loài Khi dudi dai dat lign (M. fascicularis fascicularis) theo Rafler (1821), phân loài Khi đuôi dài Côn Đảo (Ä⁄/condorensis), theo Kloss (1926) va phn loai Khi vang Siam (M.
Mulatta siamica) theo Kloss (1917) [8]. Phân họ voọc (Colobinae) với 12 loài và phân loài, chiếm 48% tổng số loài thú linh trưởng tại Việt Nam, thuộc 3 giống: giống Trachypithecus có 8 loài và phân loài; giống Pygarlri có 3 loài là Cha va chan do (Pygathrix nemaeus), Chà vá chân xám (P. cinerea) và Chà vá chân đen (P. nigripes); giéng Rhinopithecus chi có một loài Voọc mũi hếch (RÖhinopitheeus avunculus) [8], [16], [38] Họ vượn (Hylobatidae) ở Việt Nam chỉ có 1 giống Nomascusvới 6 loài: 'Vượn đen má hung Nam (Nomascus gabriella), Vugn den ma hung Bac (N.
annamensis), Vượn đen má trắng Bắc (N. ieucogenys), Vượn đen má trắng siki (N. siki), Vugn den Tay Bac (N. concolor) va Vugn đen Déng Bac (N.
Bén canh su phong phú về số lượng loài, số lượng lớn các loài đặc hữu, Việt Nam được đánh giá là điểm nóng về đa dạng thú linh trưởng với 5 loài luôn được liệt vào danh sách “25 loài thú linh trưởng nguy cấp hàng đầu trên thế giới” kể từ khi danh sách này ra đời từ năm 2001. Mức độ đe dọa các loài thú linh trưởng ở Việt Nam tắt cao so với các khu vực điểm nóng khác trên thế giới [16], [38]- 10 1. MOT SO DAC DIEM CUA GIONG MACACA 1. Tình hình nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của giéng Macaca ở Việt Nam Tài liệu đầu tiên có liên quan đến các loài khi là của người Anh Finlayso (1828), “The Mission to Siam and Hue, the Capital of Cochinchina in the year 1821 - 1822, day ding hon la cuén nhat ky mé ta thién nhién va một số loài thú mà tác giả gặp trên những chặng đường đi qua.
Công bố hoàn chỉnh hơn là của Pousareguse (1904) đã thống kê tại Việt Nam có 7 loài thú linh trưởng, trong đó có Khi mặt 46 (Macaca arctoides) [7], [28]. Một số nghiên cứu mới liên quan đến khu hệ khi của Việt Nam như Hà Đình Đức (1990) trong bài viết “Các loài khi Việt Nam” đã nêu sự phân bố, tình trạng bảo tồn của 06 loài và phân loài khi trong giống Äacaca trên lãnh thổ Việt Nam; Fooden (1996) nghiên cứu và chỉ ra vùng sống giao nhau giữa các loài khi của Việt Nam; Nguyễn Văn Minh (2012) nghiên cứu về sự phân bố của giống Macaca ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam [5], [I8]. Một số nghiên cứu khác về thành phần và vùng phân bố của các loài thú linh trưởng tại VQG Kon Ka Kinh như của Hà Thăng Long (2004, 2007, 2009), chương trình nghiên cứu của Phân viện điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ và Tây Nguyên (2003), Dự án xây dựng và phát triển VQG Kon Ka Kinh giai đoạn 2011 - 2020 đã ghi nhận trong 05 loài thú linh trưởng sinh sống ở Vườn có 02 loài khi: Khi đuôi lợn Bắc (Aacaca leonina), Khi mặt đỏ (M. aretoides) [10], [23], [33], [34] Một số nghiên cứu gần đây như Võ Đình Sơn (2009) trong báo cáo “Report on Present Distribution and Status of Macaque in Vietam” va “Nhén xét về Khi đuôi dài Côn Déo tai VOG Côn Đảo” đã mô tả rõ hơn một số đặc điểm về phân loài khi Côn Đảo - phân loài đặc hữu của Việt Nam [19], [45]; Hà Thăng Long (2011) trong báo cáo kỹ thuat “Biodivesity Survey of Macaque, Langur and Douc Monkey in and Around the Phong Nha - Ke Bang National Park, Quang Binh, Viet Nam ” đã cung cấp thêm một số thông tin về thành phần và sự phân bố của 04 loài khi trong VQG Phong Nha - Kẻ Bang, gồm Khi mặt đỏ (Macaca aretoides), Khi đuôi lợn Bắc (M.
leonina), Khi vang (M. mulatta) va loài Khi mốc (M. assamensis) [36]; Trung tâm Đa dạng sinh học và Phát triển (2011) đã ghi nhận loài Khi mặt đỏ (A. arctoides) và Khi đuôi lon Bac (M.
/eonina) trong VQG Kon Ka Kinh là những thông tin mới nhất về thành phần và sự phân bồ của các loài khi ở Việt Nam [17]. Phân loại học Khi cựu lục địa thuộc phân họ Cercopithecinae trên thế giới có II giống, chỉ duy nhat giéng Macaca di chuyển đến sống ở Châu Á [16].