Chương I: Những quy định chung; Chương II: Nghĩa vụ của người bán; Chương III: Nghĩa vụ của người mua; Chương IV: Chuyển rủi ro; Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua, đây là chương có số lượng điều khoản lớn nhất, cũng là chương chứa đựng những quy phạm hiện đại, tạo nên ưu việt của CISG. Nghĩa vụ của người bán và người mua được quy định chi tiết, trong hai chương riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu dễ dàng hơn. Về nghĩa vụ của người bán, Công ước quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ, đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực tế cũng như về mặt pháp lý). CISG nhấn mạnh đến việc kiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết của hàng hóa).
Những quy định này, rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh có 11 liên quan. Nghĩa vụ của người mua, gồm nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều từ Điều 53 đến Điều 60. CISG không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng. Các nội dung này được lồng ghép trong Chương II, Chương III và Chương V.
Trong các chương này, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán và người mua, CISG đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợp người bán/người mua vi phạm hợp đồng. Các biện pháp mà CISG cho phép người bán và người mua áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng. Ngoài ra còn có một số biện pháp không có tính chất chế tài hoặc nhằm mục đích trừng phạt bên vi phạm, ví dụ biện pháp giảm giá (Điều 50), biện pháp bên bị vi phạm gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ để tạo điều kiện cho bên vi phạm tiếp tục thực hiện hợp đồng (khoản 1 Điều 47 và khoản 1 Điều 63) hay những biện pháp mà bên vi phạm có thể đưa ra nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra (khoản 1 Điều 48). Công ước cũng quy định rõ trường hợp áp dụng các biện pháp cụ thể (ví dụ biện pháp hủy hợp đồng hay đòi thay thế hàng chỉ được áp dụng trong trường hợp vi phạm cơ bản - khái niệm vi phạm cơ bản được nêu tại Điều 25).
Chương V của Phần 3 quy định về vấn đề tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàng từng phần, hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Các Điều 74, 75, 76, 77, 78 của CISG là những điều khoản được dẫn chiếu đến rất nhiều trong các tranh chấp được áp dụng CISG, vì các điều khoản này quy định rất chi tiết về một biện pháp được áp dụng phổ biến nhất trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là tính toán tiền bồi thường thiệt hại. Các điều khoản khác trong chương này đề cập đến vấn đề miễn trách nhiệm, hậu quả của việc hủy hợp đồng và bảo quản hàng hóa trong trường hợp có tranh chấp. Phần 4: Các quy định cuối cùng (từ Điều 89 đến Điều 101).
Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo 12 lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này. Thành công của CISG Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất. Trong phạm vi hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa (như các công ước La Hay năm 1964), CISG là Công ước quốc tế có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức độ được áp dụng. Với 89 Quốc gia thành viên, ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới (Ủy ban Đối ngoại Quốc Hội, 2015, tr.
Trong danh sách 89 Quốc gia thành viên của CISG, có sự góp mặt của các Quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các Quốc gia phát triển cũng như các Quốc gia đang phát triển, các Quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các Quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục. Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG. Vai trò của CISG còn thể hiện ở chỗ CISG là nguồn tham khảo quan trọng của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) và Bộ nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL).Trên cơ sở nền tảng của CISG, các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về hợp đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của CISG tại Châu Á, khi mà Nhật Bản tham gia Công ước này.
Với ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia dự báo việc Nhật Bản- nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ước Viên 1980 sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia Châu Á. Theo các chuyên gia và các doanh nghiệp, có nhiều yếu tố lý giải tại sao CISG lại là một trong những Công ước thống nhất về luật tư thành công nhất: Thứ nhất, CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc - tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh. Được Liên Hợp Quốc bảo 13 trợ soạn thảo và thực thi, CISG không chỉ tạo được sự tin cậy từ phía các quốc gia (trong quá trình soạn thảo) mà còn nhận được sự tin tưởng từ đông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi). Đây là yếu tố rất cần thiết đối với một văn bản nhất thể hóa pháp luật về một vấn đề quan trọng và vốn có nhiều khác biệt giữa các quốc gia, chủ thể có tập quán khác nhau.
Thứ hai, cách thức soạn thảo CISG cho thấy những nỗ lực thực sự trong việc tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế. Đại diện của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau (Common Law, Civil Law), tại các châu lục khác các tài liệu lịch sử về các phiên làm việc khác nhau của UNCITRAL 5 cho thấy quá trình đàm phán để soạn thảo CISG đã trải qua rất nhiều khó khăn do sự khác biệt của pháp luật của các quốc gia cũng như những mối quan tâm khác nhau của các quốc gia này khi tham gia vào việc soạn thảo một công ước thống nhất luật thực chất như CISG (Nguyen Trung Nam, 2010). Mỗi quy định trong văn bản cuối cùng đều là kết quả của quá trình thảo luận chi tiết, với việc xem xét đầy đủ và hợp lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các bên. Ví dụ như một chào hàng có bắt buộc phải có giá xác định trước hay không? Đây là câu hỏi mà các đại diện của Civil Law và Common Law đã có những tranh cãi rất gay gắt.
Đại diện của Pháp và Cộng hòa liên bang Đức cho rằng giá cả cần phải được xác định trước hoặc có thể xác định trước (có các yếu tố để xác định giá). Trong khi đó, theo luật các nước Common law (Anh, Hoa Kỳ), nếu bên chào hàng chưa đưa ra giá trong hợp đồng thì điều này không ảnh hưởng đến hiệu lực của chào hàng. Giá của hợp đồng sẽ được xác định theo giá hợp lý trên thị trường vào thời điểm giao hàng. Để hài hòa các quy phạm xung đột của hai hệ thống Civil law và Common law, các nhà soạn thảo CISG đã phải rất khéo léo bằng cách đưa ra 2 điều khoản về xác định giá trong hợp đồng mua bán.
Điều 14 đòi hỏi giá cả phải được quy định rõ ràng hay cần phải xác định được theo các điều khoản trong chào hàng, trong khi đó, Điều 55 quy định rằng nếu các điều kiện về giá cả theo Điều 14 không được thỏa mãn thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và giá của hợp đồng được hiểu là giá trên thị 5 “United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Vienna, 1980)”. Có thể xem được tại: http://www.org/uncitral/fr/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_travaux.html (truy cập ngày 19/11/2018) 14 trường vào thời điểm giao hàng, tại địa điểm giao hàng. Như vậy, Công ước Viên 1980, một mặt, yêu cầu một chào hàng bắt buộc phải có giá có thể xác định được, mặt khác, đưa ra quy định căn cứ xác định giá cho các hợp đồng mà giá cả chưa được xác định. Quy định này là phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế khi mà các hợp đồng có giá mở (open price contract) ngày càng phổ biến.
Một điều đáng lưu ý khác là trong quá trình soạn thảo Công ước cũng như ngay trong nội dung Công ước, các soạn giả luôn nêu cao tính chất quốc tế của Công ước và vì thế, cố gắng dùng ngôn ngữ trung tính, đơn giản, tránh sử dụng các khái niệm riêng của từng hệ thống luật của các quốc gia. Với cách thức soạn thảo như vậy, các điều khoản của CISG thể hiện được sự thống nhất, hài hòa các quy phạm khác nhau trong pháp luật của các quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia này. Thứ ba, nội dung của Công ước được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế. Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá CISG là tập hợp các quy phạm khá hiện đại, thể hiện được sự bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế.
Các quy phạm này cũng phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế do được soạn thảo dựa trên một nguồn luật quan trọng là các tập quán thương mại quốc tế, trong đó có các Incoterms của Phòng Thương mại quốc tế (ICC). Những giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra là khá hợp lý, hiện đại.