CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG - SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980. Vấn đề vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 1. Vi phạm hợp đồng Thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” được sử dụng khá phổ biến, hiện nay có thể thấy thuật ngữ này xuất hiện và được định nghĩa đầy đủ, rõ ràng nhất tại khoản 12 Điều 30 Luật Thương mại 2005 (LTM) như sau: “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại.” Như vậy, LTM quy định các trường hợp được xem là vi phạm hợp đồng là khi đã thỏa thuận hoặc pháp luật quy định nhưng lại xảy một trong các trường hợp sau: - Không thực hiện nghĩa vụ; - Thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ; hoặc - Thực hiện không đúng nghĩa vụ. Việc vi phạm hợp đồng nói riêng hay vi phạm nghĩa vụ nói chung theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn gồm ba vấn đề trên, điều này được thể hiện qua quy định tại Điều 351 BLDS như sau: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.
Qua định nghĩa của BLDS có thể thấy các nhà làm luật vẫn áp dụng theo hướng liệt kê các vi phạm, mặc dù vẫn liệt kê ba trường hợp dẫn đến việc vi phạm hợp đồng gồm: thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn; thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung. Tuy nhiên, theo quy định tại BLDS về các trường hợp vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự khi: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.2 Như vậy, theo tác giả chỉ cần quy định hai trường hợp tại Điều 351 BLDS là đã bao quát các trường hợp vi phạm vì trong tóm lại chỉ có hai khả năng dẫn đến vi phạm là do bên có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụ, trường hợp thứ hai là do bên có nghĩa vụ đã thực hiện không đúng (bao gồm: không đúng thời hạn, không đúng thỏa thuận, thiếu về số lượng, chậm thanh toán,…). 2 Khoản 1, Điều 351 BLDS. 123doc 7 Ví dụ như trường hợp vụ tranh chấp số 87/16 HCM giữa công ty TTP và công ty ĐTM về việc Công ty TTP ký Hợp đồng thi công xây dựng số 2562/2015/HĐTC.
Theo đó bị đơn được thuê cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị, nhân công thi công hoàn thành 26 tim Cọc khoan nhồi cho nguyên đơn, thời hạn hoàn thành là 55 ngày. Sau khi nguyên đơn đặt cọc 10% giá trị Hợp đồng, bị đơn đã thực hiện một phần công việc sau đó ngừng thi công, bị đơn không thực hiện bất cứ công việc nào theo hợp đồng nữa. Hai bên đã lập biên bản xác nhận việc chậm trễ và nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản nhắc nhở bị đơn thực hiện. Vì quá thời hạn hợp đồng đã lâu và làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của chủ đầu tư.
Đại diện chủ đầu tư đã đề nghị bị đơn quyết toán công việc đã thực hiện, di dời xe khoan cọc ra khỏi mặt bằng công trình. Nguyên đơn đã phải đưa xe đi gửi và thuê đơn vị khác tiếp tục thi công. Trọng tài đã ra phán quyết và tại đoạn văn số 51 nêu rõ: “Hội đồng trọng tài xét thấy hành vi ngưng thi công, không hoàn thành công trình ghi trong Thỏa thuận Hợp đồng là Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng đối với nguyên đơn. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài xin lưu ý vi phạm của bị đơn là “không hoàn thành Hợp đồng đúng theo thỏa thuận” chứ không phải là hành vi “không thực hiện hợp đồng” như Nguyên đơn đã lập luận thuộc về trường hợp quy định tại Điều 12.7 của Hợp đồng: “Nếu Bên B sau khi ký kết Hợp đồng nhưng lại không thực hiện Hợp đồng thì Bên A có quyền tịch thu bảo lãnh thực hiện Hợp đồng … và Phạt thêm một khoản tiền bằng 12% giá trị Hợp đồng” là tự mâu thuẫn với trình bày ở đoạn văn thứ 42 phần trên (bên Bị đơn có thực hiện một phần công việc nhưng chưa quyết toán), Hội đồng Trọng tài không thể chấp nhận…3 Như vậy, việc xác định vi phạm trong hợp đồng cần xác định rõ vi phạm do không thực hiện hay do thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng.
Việc nhận diện các trường hợp được xem là vi phạm có thể nói nhằm mục đích để đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, cụ thể là phải chịu trách nhiệm dân sự (trách nhiệm tài sản) khi vi phạm hợp đồng. 3 Trung tâm Trọng tài Thương mại quốc tế Việt Nam – Bên cạnh phòng thương mại Việt Nam, 2017. Vụ tranh chấp số 87/16 HCM, phán quyết trọng tài ngày 9/5/2017.1 Vi phạm hợp đồng trước thời hạn Ở Việt Nam, vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn gần như không được thừa nhận, tuy nhiên BLDS 2005 vẫn có quy định tương tự trong trường hợp một bên có khả năng không thực hiện đúng hợp đồng. Điều 415 BLDS 2005 quy định khi một bên phát hiện nguy cơ nghĩa vụ theo hợp đồng không thực hiện đúng hạn do bên kia có tài sản bị giảm sút nghiêm trọng, bên đó có quyền hoãn thực hiện hợp đồng.
Quy định này vẫn được kế thừa tại Điều 411 BLDS cho phép bên phải thực hiện nghĩa vụ có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ. BLDS đã chia thành hai trường hợp: - Một là, bên phải thực hiện nghĩa vụ trước được hoãn được hoãn khi khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết. Thời hạn hoãn việc thực hiện nghĩa vụ sẽ chấm dứt khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. - Hai là, bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Trong trường hợp này thì thời hạn hoãn của bên phải thực hiện nghĩa vụ sau sẽ chấm dứt khi bên phải thực hiện nghĩa vụ trước thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên nhận thấy những quy định của BLDS chỉ dừng lại ở việc đưa ra quy định nhưng vẫn chưa giải quyết được bản chất của vấn đề, và hầu như không được áp dụng trên thực tế bởi luật không đưa ra bất kỳ điều kiện hay cơ sở nào để một bên có thể cho rằng bên kia có thể không thực hiện đúng hạn, và căn cứ để cho rằng việc giảm sút tài sản của bên đó sẽ khiến anh ta không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng.2 Vi phạm cơ bản hợp đồng Việc cần xác định thế nào là vi phạm hợp đồng và vi phạm này được xem là cơ bản hay không cơ bản, nói cách khác là vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng là điều cần lưu ý. Bởi vì theo quy định tại Điều 293 LTM thì “bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản”, dĩ nhiên là pháp luật có loại trừ khả năng các bên có thỏa thuận riêng thì phải được tôn trọng. 123doc 9 Chính vì vậy, ngoài vấn đề vi phạm hợp đồng, tác giả tiếp tục phân tích và nghiên cứu về các vi phạm cơ bản hợp đồng để có thể áp dụng chế tài một cách chính xác nhất.
Tại Việt Nam, vi phạm cơ bản hợp đồng cũng được đề cập trong Luật Thương mại 2005. Trong đó Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, vi phạm cơ bản hợp đồng là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”. Đối với pháp luật Việt Nam, việc quy định “vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại năm 2005 là cần thiết để xử lý những trường hợp vi phạm hợp đồng vì đây chính là điều kiện để tuyên bố tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng 4. Tuy nhiên, tính đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng.
Dẫn đến những câu hỏi phát sinh từ vi phạm cơ bản như thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng là gì?. vẫn chưa có lời giải thích cụ thể5. Vì vậy, việc áp dụng khái niệm này trong thực tiễn sẽ có thể gặp không ít khó khăn nếu không có được những hướng dẫn, giải thích cụ thể. Biện pháp xử lý khi vi phạm hợp đồng Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận, vì thế luật pháp không chỉ cho phép các bên tự thoả thuận, lựa chọn áp dụng các hình thức chế tài mà luật quy định rõ điều kiện áp dụng, hậu quả pháp lý…mà còn cho phép các bên tự do thoả thuận để đưa ra các hình thức chế tài phù hợp với quy định của pháp luật.
Các nguyên tắc này không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. Cụ thể là đối với quy định của nước ta hiện nay thì: ngay tại Điều 292 LTM, quy định 6 loại chế tài thương mại chính sau: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi phạm, Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng và Hủy bỏ hợp đồng (hoặc các biện pháp khác do các bên thỏa thuận). BLDS cũng quy định các cách thức xử lý trong trường hợp vi phạm và sử 4 Điều 308, 310 và 312 Luật Thương mại 2005 5 ThS. Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980, https://cisgvn.