CHƯƠNG 1 MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VE GIAO KET HỢP DONG LAO DONG VA THUC TRANG PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH 1. Một số van đề lý luận pháp luật về giao kết hợp đồng ho động 1. Khái uiệm, ý nghĩa cña giao kết hợp đồng lao động 111.1 Khải niệm giao kết HDLD Theo quan điểm của Tổ chức Lao đông quốc tế, HĐLĐ là “một théa thuận ràng buộc pháp lý giữa người sử dimg lao động và một công nhân trong đó xác lập các đều liên và chế độ làm vie“! Ưu điểm của khái niệm nay là chỉ 16 chủ thể và một số nôi dung cơ ban của HDLD, nhung hạn chế ở việc thu hẹp chủ thé chỉ là công nhân. Ơ Đức, HĐLĐ là một loai hợp đông dân sự, theo Điều 611 Bộ luật Dân sự Đức 1896 “thông qua hợp đồng bên đã cam kết thực hiện một hoat động thi phải thực hiện hoạt đồng đó, còn bên laa có nghữa vụ trả thit lao theo théa thuận "2 6 Pháp HĐLĐ được ghi nhận trong an lệ “ HDLD là sự thỏa thuận, theo đó một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ dao của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công"? Khả niém này đã chỉ ra mét phan nội dung của HDLD và sư lệ thuộc pháp ly của NLD đối với NSDLD.
Tuy nhiên, chưa xác định được van đề chủ thé và nội dung hợp đồng Tu quan niệm về HĐLĐ ở Pháp và ở Đức cho thay ban chất HĐLĐ như là dang hợp đông dân sự và có bản chat của hợp đông dân sự. Ở Việt Nam HĐLĐ được ghi nhận trong các van bản pháp lý qua các thời kỳ khác nhau. Trong Sắc lệnh số 29 (12/3/1947) quy định một cách rõ rang “Khê ước lam công phải tuân theo dân luật”. Trong Thông tư số 01/1988 của BLĐTBXH được hướng dan thi hành tại Quyét định số 217/1987 của Hội đông bộ trưởng về lao đông — tiền lương và xã hội: “HĐLĐ là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa giám đốc xi nghiệp và người lao động về ngliia vụ và quyên lot, về trách nhiệm và quyên han của hai bén trong qué trình lao động do giám đốc lạ: kết theo mẫu đính kèm thông tư này °.
Hội đồng Nhà nước ban hành Phép lệnh hop đồng lao đông ngày 30/8/1990 “HDLD là sự théa thuận giữa người lao động với người sử đương. thuê mướn lao động (goi chưng là người sir dụng lao động) về việc làm có trả công. mà hai bên cam kết với nhau về điều liện sử dung lao động và điều liên lao động về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Bộ luật lao đông năm 1995 được sửa doi, bố sung ngày 2002 “ HDLD là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dung lao động về việc làm có trả công, điều kiên lao đồng. quyên và ng]ữa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” "TO chức ho đông quốc tế, Thuật ngữ quen hệ công ngiiệp và các kivai niệm liên que, Vin phòng lo đồng quốc tế Đông A, Bing Cốc , 1996 3 Giáo trình luật lao động Viet Nam - tập 1 Trường Daihoc nit Hà Nội, Nhà suit bin Công an nhân din Hi Nội —~2021,tr.
} Paul Pieschi Vivet, Contrat de Travail (Existence- Foramtion), Dalloz, Paris, 1993 ,tr 5 10 Bộ luật lao động 2012 khái niém về HĐLĐ có sự thay đổi: “HDLD là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương điều kiên làm việc, quyên và ngiữa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Đên BLLĐ năm 2019, “Hop đồng lao động là sự théa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công tiền lương điều kiện lao động quyển và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hé lao động”. Vé cơ bản quay lại định nghia HDLD năm 1994, nhưng có thêm yêu tô tiên lương Tuy nhiên, khái niém về HDLD đã có sự mở rông hơn, rõ rang và khái quát hơn, thé hiện bản chất của HDLD là sự thương lượng thoả thuận. Tiếp theo Khoản 1 Điêu 13 BLLĐ năm 2019 quy định “Trường hợp hai bên théa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thé hiện về việc làm cé trả công tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thi được coi là hop đồng lao đồng". Thé luận việc xác định HĐLĐ không phụ thuộc vào tên gọi và phụ thuộc vào nội dung của hợp đông.
Như vậy, khái nệm về HĐLĐ trong thực tê có nhiều cách tiếp cận khác nhau và tựu chung lại là kết quả của sự thöa thuận giữa NSDLD với NLD. Đó là sự thông nhật ý chí của các bên về quyên và ngiữa vụ của mỗi bên muôn dat được. Từ đó, ta có thé hiểu: “HĐLĐ thực chất là sự théa thuận giữa hai chủ thé, một bên là NLD có nhu cầu về việc làm, một bên là NSDLD có nhu câu thuê, mướn, sử dụng NLĐ dé mua sức lao đông. Trong đó, NLD cam kết tự nguyện làm một công việc nhật định cho NSDLD va đất mình dưới sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLD và được NSDLD trả lương.
Căn cứ pháp lý làm phát sinh QHLD giữa NLD và NSDLD chính là hành vi giao kết HĐLĐ. Theo từ điển Tiêng Việt, giao kết được hiểu là “đưa ra và cam kết những điệu mà mỗi bên phải thực biện”!. Giao kết chính là việc thé tiện ý chí của các chủ thé về việc thực hién những điêu đã thoả thuận Như vậy, có thê liễu: Giao kết hợp đồng lao động là sự cam kết thực hiện thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao đông về việc làm có trả công tiền lương những thương lượng về điều kiện lao động, quyền và ngliia vụ của các bên,. dé đi đến sự thống nhật và thực hiện xác lập các điều khoản trong hợp đông lao đông Giao kết HĐLĐ giữa NSDLD và NLD phải được thực tiện trước khi người sử đụng lao đông nhận người lao động vào làm xwiệc + Viên ngôn ngữ học , Nhà suit bin Da nẵng, Từ điển tiổng Vise 2004 H1 Giao kết HDLD có những đặc điểm cơ bẩn sau: Một là, có sự thương lương thoả thuận giữa các bên: Đây là điểm đặc trưng của hợp đồng nói chung và giao kết HĐLĐ nói riêng bởi HDLD trước hệt là một loại hop đông nên mang bản chat hợp đồng, đó là tính khé ước phải có sự thương lượng, thoả thuận giữa các bên Mat khác, đối tương của giao kết HĐLĐ là một loại “hàng hoá đặc tiệt” đó là sức lao đông, chính vì vậy phải có sự dam phán, thoả thuận dé thống nhật các van đề liên quan tới điều khoản, nôi dung của hợp đồng nhu công việc, dia điểm lam việc, mic lương,.
quyền và nghĩa vụ của NLD và NSDLĐ. Đây cũng chính là thé hién sự tôn trọng quyền định đoạt của các bên Hai là, hướng tới một đối tượng cụ thể: Chủ thé giao kết HDLD chính làNLD và NSDLĐ ma không ai khác có thé thay thé được, bởi sức lao động là hàng hoá đặc biệt gin liên với chính bản thên họ. Trong đó, NLD bán sức lao động của minh, con NSDLD mua sức lao động của NLD và trả công, thù lao cho NLD. Thông qua yêu tô “việc làm”, NLD phụ thuộc và chịu sự quan lý của NSDLD Ba là, không xâm phạm đền lợi ich của Nhà nước, lợi ích công công, quyên và lợi ích khác của người khác: Cac bên chủ thê khi giao kết HDLD được quyét định moi van đề liên quan đền hợp đông không có bat ky cá nhân, tô chức nào kế cả Nhà rước được can thiệp, làm thay đổi ý chi của ho.
Tuy nhiên, sự tự do ý chí của các chủ thê phải được dat trong khuôn khô pháp luật, các thoả thuận không được trái với điều cam của pháp luật, không được trái với đạo đức của xã hôi 11. Ýng]ĩa của giao kết HĐLĐ Giao két HĐLĐ là giai đoạn đầu tiên thể hiện sự hợp tác của các bên dé đi dén sự thống nhất ý chí nhằm tạo lêp QHLD, là cơ sở pháp lý dé các bên bảo vệ quyên lợi của minh khí tranh chấp xảy ra. Ngoài ra, dưới góc đô quan hệ lao động hợp đông lao đông con có y nghia đối với bên thứ ba như cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, việc giao kết HĐLĐ có ý nghĩa rat quan trọng nhw sau: Đôi với người lao động giao kết HĐLĐ là phương tiện pháp ly quan trong dé NLD tự do tim kiêm việc làm, tự do thoả thuận, lương lượng va bán sức lao động của minh cho bat kỳ NSDLĐ nào.
Trong thời kính tê thi trường, hoạt động lao động trong xã hội là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dich vụ đây cũng là lĩnh vực sử dung lao 2 đông nhiêu nhất. Hop đồng lao động là phương tiên dé người lao đông tự do lựa chon thay đổi việc làm, nơi làm việc phủ hợp với khả năng, sở thích và nhu cầu của mình. Nhờ có HĐLĐ mà người lao đông luôn yên tâm làm việc, có thé làm việc cho bat kỳ NSDLD nao, dựa vào HĐLĐ mà họ có thé đòi các quyên lợi chính đáng cũng như bảo vệ chính mình khi tranh chép xảy ra Đôi với người sử dung lao động: giao kết HĐLĐ là phương tiên pháp lý quan trọng dé NSDLĐ thực hiện quyên tự chủ trong thuê mướn và sử dụng lao đông Trong khuôn khô pháp luật cho phép, NSDLĐ có thé thoả thuận với NLD các nội dung cụ thé của QHLD cho phù hợp với nhu câu sử dung của minh. Các bên cũng có thể thoả thuận thay đổi nội dung hep đồng lao động hoặc thoả thuận đề châm đứt hợp đông lao động trước thời hạn Bên cạnh đó, thông qua HĐLĐ, NSDLĐ có thé thực hién quyền quản lý, điều hành, kiểm tra và chi phối NLD nhằm phủ hợp với su phát triển kinh doanh.
Đổi với nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước: giao kết HĐLĐ được coi là công cụ pháp ly hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao đông. Bên cạnh tạo thêm nhiều việc lam, tạo điều kiện cho NLD tham gia quan hệ lao động Nhà nước còn phải đảm bảo sao cho quan hệ ay dién ra đúng pháp luật Thông qua HDLD Nha nước nắm được nguôn nhân lực, phân bó và sử dung lao động trong toàn xã hội giúp cho Nhà nước quan lý về lao động dua trên su thừa nhận và tôn trọng quyên tư do lao động quyên thu nhập chính đáng của NLD, quyên tự chủ sản xuét kinh doanh, quyền tu do thuê mướn lao động của NSDLĐ tao lập một cơ cầu lao đông làm việc có liệu quả.