D IH CQU CGIA TH NHPH H CH MINH TRU NGD IH CB CHKHOA LE THIB CH TUYET CHUYEN NG NH: QUAN LÝ TÀI NGUYEN VA MOI TRƯỜNG MAS CHUYENNG NH: 60 85 01 01 LUẬN VAN TH CSI TP.H CH MINH - tháng 08 nam 2017 Công trình được hoàn thành tại: Trường Dai học Bách Khoa - ĐHỌG.HCM Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Quốc Túc (Ghi rõ họ tên, học ham, học vi va chữ ký) Cán bộ cham nhận xét Ï:. (Ghi rõ họ tên, học ham, học vi va chữ ký) Cán bộ cham nhận xét 2:.----c-c-cccccs¿ (Ghi rõ họ tên, học ham, học vi va chữ ký) Luan văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Dai hoc Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM, ngày 11 thang 08 năm 2017. Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn Thạc sĩ gồm: PGS.TS Lê Văn Khoa WBmtOPn PGS.TS Võ Lê Phú PGS.TS Lê Phi Nga PGS.TS Trương Thanh Cảnh TS.
Nguyễn Nhật Huy Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV va Trưởng Khoa quan lý chuyền ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nêu có). CHỦ TỊCH HỘI ĐÔNG TRƯỞNG KHOA ĐẠI HỌC QUOC GIA TP.HCM CỌNG HÒA XÃ HOI CHU NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHIEM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: LÊ THỊ BẠCH TUYẾT MSHV: 1570923 Ngày, thang, năm sinh: 01/07/1991 Nơi sinh: Thanh phô Vinh Long Chuyên ngành: Quan lý Tai nguyên va Môi trường Mã ngành: 60 85 01 01 I. TÊN DE TÀI: Ô nhiễm kháng sinh từ hoạt động chăn nuôi ở thượng nguồn Sông Sài Gòn H. NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: - Khao sát và lay mẫu chat thải, mẫu dat và mẫu nước ở các trang trại chăn nuôi (bò, heo, gà) khu vực thượng nguồn sông Sai Gòn.
- _ Xác định hàm lượng khang sinh lựa chọn trong chất thải (mẫu phân), từ hoạt động chăn nuôi (bò, heo, gà) ở khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn. - Banh giá ô nhiễm kháng sinh trong môi trường dat (mẫu đất), từ việc sử dụng chất thải trong hoạt động chăn nuôi ở khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn làm phân bón cho cây trông. - _ Đánh giá khả năng lan truyền kháng sinh từ môi trường đất vào trong nước (lay mẫu nước từ kênh rạch xung quanh khu vực đất trồng có bón phân từ chất thải chăn nuôi). - Dé xuất các giải pháp quản lý, giám sát, giảm thiểu sự hiện diện va tác động của các chất kháng sinh từ hoạt động chăn nuôi ở thượng nguồn sông Sai Gòn.
NGÀY GIAO NHIỆM VU: 16/01/2017 IV. NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VU: 18/06/2017 v. CÁN BỘ HƯỚNG DẦN : TS. ĐINH QUỐC TÚC Tp.
CÁN BỘ HƯỚNG DÂN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký) TS. Dinh Quốc Tic TRUONG KHOA. (Họ tên va chữ ky) LOI CAM ON Lời đâu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thay Cô Khoa Môi trường và Tài nguyên, Trường Đại học Bách Khoa — PHOG TP. Hồ Chi Minh và Trung tâm Nghiên cứu về nước (CARE) đã hỗ trợ dé tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Thay Dinh Quốc Tuc đã định hướng, tao điều kiện và hướng dân tận tình dé tôi thực hiện dé tài này. Quá trình học tập và thực hành cùng Thay trong suốt một năm qua đã mang đến cho lôi những kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn quý giá nhất cũng như các trải nghiệm về triên khai khao sat lay máu, xu ly và phán tích mâu. Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lời cám ơn đến chị Lê Thị Minh Tâm, em Nguyễn Trường An (Phòng thí nghiệm FENR-CARE — Trung tâm Nghiên cứu về nước CARE) đã giúp đỗ tôi trong quá trình thực hiện dé tài. Tôi cũng xin cắm ơn các cô chú chủ trang trại chăn nuôi đã hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát và lấy máu.
Cuôi cùng tôi xin cam on gia đình và người than đã luôn ở bên cạnh, quan tam cham sóc, tạo điêu kiện vê vat chát cũng như tinh thân, giúp tôi hoàn thành tot chương trình học trong suốt thời gian qua. HCM, ngày 30 tháng 06 năm 2017 Lê Thị Bạch Tuyết TÓM TAT Hiện nay, thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi cho người và vật nuôi. Hơn 50% thuốc kháng sinh trên thế giới dùng trong nông nghiệp, đặc biệt trong chăn nuôi để tăng năng suất nuôi trồng. Sau khi được sử dụng, phần lớn các kháng sinh này được bài tiết ra môi trường thông qua phân và nước tiểu, từ đó gây ô nhiễm kháng sinh trong môi trường, cụ thé là môi trường đất và nước.
Vấn dé ô nhiễm kháng sinh đối với môi trường hiện đang là vấn đề toàn cầu và nhận được sự quan tâm lớn từ xã hội. Các kháng sinh hiện nay thường có hoạt tính sinh học cao và bên vững trong môi trường, điều này xác định rủi ro tiềm an của chúng đối với môi trường sinh thái. Đặc biệt, với sự phát triển nhanh chóng của chăn nuôi hiện đại, nguy cơ kháng sinh đối với hệ sinh thái cũng như sức khỏe con người đang gia tăng. Theo đó, tại Thành phố Hỗ Chí Minh thuộc lưu vực thượng nguồn sông Sài Gòn là một trong những thành phó lớn nhất Việt Nam với hơn 8 triệu dân và có hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh; do đó, tình trạng lạm dụng kháng sinh trong thú y là điều không thể tránh khỏi.
Vì vậy, việc nghiên cứu ô nhiễm kháng sinh từ hoạt động chăn nuôi ở khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn được thực hiện nhằm xác định dư lượng kháng sinh có trong phân vật nuôi để từ đó đánh giá mức độ ô nhiễm kháng sinh từ phân vật nuôi vào trong đất và khả năng lan truyền kháng sinh từ đất vào môi trường nước (nước kênh rạch, nước sông. Các mẫu phân, đất và nước được lây từ các trang trại chăn nuôi, các thửa ruộng và kênh rạch tại ở khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn. Các mẫu được phân tích bang cách sử dụng sắc ky lỏng kết hợp với đầu dò khối phố kép (LC-MS/MS). Tổng số 26 mẫu được thu thập và phân tích trong phòng thí nghiệm (03 mẫu phân gà, 03 mẫu phân bò, 03 mẫu phân heo; 02 mẫu đất bón phân gà, 04 mẫu đất bón phân bò và 05 mẫu đất bón phân heo; 01 mẫu nước từ trang trại nuôi gà, 02 mẫu nước từ trang trại nuôi bò, 01 mâu nước từ trang trại nuôi heo và 02 mâu nước mặt).
Kết qua cho thay hàm lượng kháng sinh đều phát hiện trong các mẫu phân và được tìm thấy trong đất được bón phân vật nuôi và cả trong nước. Trong phân, nhóm Diaminopyrimidines (643 hg/Kg — 87.692 hg/Kg) và nhóm Tetracyclines il (3.890 ug/ g) chiếm ưu thé so với các nhóm còn lại. Nhóm Flouroquinolones (125 ng/L — 232 ng/L) xuat hién trong nước mat với ham lượng khá cao. Nhóm Diaminopyrimidines (0,59 ug/Kg — 91,30 ug/Kg), nhóm Tetracyclines (1,62 hg/Kg — 13,57 hg/Kg) và nhóm Flouroquinolones (< LOD — 15,83 ug/Kg) đều được tìm thay trong các mẫu đất thu được.
Kết quả đã xác định hàm lượng kháng sinh trong các mẫu phân vật nuôi, và sự hiện diện kháng sinh nay trong các mẫu đất bón phân vật nuôi và mẫu nước mặt trên sông Sài Gòn. Kết qua còn cho thấy đất như một nguồn gián tiếp lan truyền kháng sinh từ phân vật nuôi vào trong nước. Mặc dù chưa thể có những kết luận chính xác về mức độ độc hại của dư lượng kháng sinh nhưng các kết quả nay có thé góp phần nâng cao nhận thức của con người về các nguy cơ của kháng sinh đối với hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. ill ABSTRACT Nowaday, antibiotics are widely used for human and animal.
More than 50% of antibiotics in the world are used in the husbandry to increase productivity. After using, most of these antibiotics are directly excreted into the environment by faeces and urine, which can contaminate the soil and water environment. The antibiotic pollution in the environment is a global problem which has been greatly attended from the society. Antibiotics have bioactivity and sustainablility in the environment highly, which determines their potential risk to the ecological environment.
Within the rapid development of the modern husbandry, the risk of antibiotics to the ecosystem as well as human health are increasing. Ho Chi Minh City which is one of the largest cities in Vietnam with more than 8 million people belongs to the upstream of the Saigon River basin and has a strong livestock development, that makes antibiotic residue increasingly. Therefore, the studies of antibiotic pollution from livestock production in the upstream of the Saigon River basin are carried out to determine the residue of antibiotics in livestock manure that assesses the level of antibiotic contamination from livestock manure into the soil and the possibility of antibiotic spreading from the soil into the water environment (canals, rivers, etc. Manure, manured-soil and water samples were collected from livestock farms, fields and canals in the upstream of Saigon River basin.
Samples were analyzed by using liquid chromatography coupled with dual-spectral mass spectrometry (LC-MS / MS). A total of 26 samples were collected and analyzed in the laboratory (03 samples of chicken manure, 03 samples of cow manure, 03 samples of pig manure, 02 soil samples of chicken manure, 04 soil samples of cow manure and 05 soil samples of manure, 01 water sample from chicken farms, 02 water samples from cattle farms, 01 water sample from pig farms and 02 surface water samples). iV Analytical results showed that antibiotic concentrations were found in manure, soil and water samples. In the feces, the Diaminopyrimidines group (643 ug/Kg - 87,692 ug/Kg) and the Tetracyclines group (3.256 ug/Kg - 17,890 ug/Kg) were dominant, the Flouroquinolones group (125 ng/L - 232 ng/L) is detected in surface water quite high.
the Diaminopyrimidines group (0.30 ug/Kg), Tetracyclines group (1.57 ug/Kg) and Flouroquinolones group (< LOD - 15.83 pg/Kg) were found in the soil samples. Most of the selected antibiotics for this study were found in all three environments. These results have determined antibiotic concentrations in livestock manure samples, and the presence of these antibiotics in manured soil samples and surface water samples on the Saigon River. Although it is not possible to make accurate conclusions about the toxicity of antibiotic residues, these results may raise human’s awareness about the risks of antibiotics to ecosystems and community health.
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan day là công trình nghiên cứu cua riêng tôi. Ngoại trừ những nội dung đã được trích dan, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Tác giả luận văn Lê Thị Bạch Tuyết VI MỤC LỤC 18108 Bi 0. Vii DANH MỤC TU VIET THẮTT.<-< << < << s59 se 9 9S e4 sseseeX DANH MỤC BANG BIEU .° << << << se sex esesesesese xii DANH MỤC HÌNH ẢÌNH.- << s33 3e525eS959E 240 xiii MO DAU.
Tính cấp thiết của đề tain.cccscssssssssssscssssssssssssssessssssssssssssssssssssssssesesesecs 1 2 Mục tiêu nghiÊn CỨU.