mở đầu bằng phong trào văn hóa mới Ngũ Tứ, mang nội hàm là tinh thần nhân văn hiện đại và lấy nữ tính làm chủ thé phát ngôn, chủ thé kinh nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thê thâm mĩ.” Khái niệm của Lưu Tư Khiêm là khái niệm trọn vẹn nhất dành cho văn học nữ tính Trung Quốc khi chỉ ra được mốc khởi điểm của văn học nữ tính là phong trào văn hóa Ngũ Tứ 1919, chỉ ra được chủ thê nữ tính là vấn đề cốt lõi của văn học nữ tính, chỉ ra được người mang giới tính nữ, mang những tính chất đặc trưng cho giới tính nữ là chủ thể nữ tính. Người phụ nữ trong văn học nữ tính làm nhiệm vụ khẳng định vi trí và giá tri bản thân trong xã hội, bộc lộ ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc cho giới của mình, lí giải những tính chất đặc trưng của người nữ. Đề thực hiện nhiệm vụ ấy, ý thức nữ tính ở người phụ nữ phải thức tỉnh dé người phụ nữ trở thành chủ thé nữ tính. Ý thức nữ tính là quá trình chờ được sinh ra chứ không phải tất cả những người sinh ra mang giới tính nữ đều có sẵn ý thức này.
Do đó, người phụ nữ sẽ phải trải qua quá trình thức tỉnh ý thức nữ tính. Ý thức nữ tính ở chủ thé sẽ được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, những mức độ này đều được mô tả trong văn học nữ tính. Mức độ thứ nhất là ý thức nữ tính được biéu hiện đủ dé người phụ nữ là chủ thé tư duy. Họ ý thức được mình có vị trí và giá trị trong xã hội, có quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc, tận hưởng hạnh phúc từ chính góc nhìn của người phụ nữ về bản thân mình.
Khi người phụ nữ làm chủ được tư duy, biéu hiện của ý thức nữ tính sẽ tiến lên mức độ thứ hai — người phụ nữ là chủ thể kinh nghiệm. Bởi người phụ nữ ý thức được mình là một con người độc lập mang giới tính nữ, nên dần dần họ sẽ khám phá ra những kinh nghiệm nữ tính độc đáo mà người đàn ông không có được. Người phụ nữ mang những nét đặc trưng “trời phú” được nhìn 19 nhận từ góc nhìn của giới tính nữ về thế giới xung quanh. Khi kinh nghiệm được biểu lộ đến một mức độ nhất định, người phụ nữ sẽ dựa trên những trải nghiệm trong cuộc sông đề nhận ra những vẻ đẹp riêng của bản thân.
Lúc này, biểu hiện của ý thức nữ tính đạt đến mức độ thứ ba — người phụ nữ là chủ thé thâm mĩ. Người phụ nữ có góc nhìn của chính mình, bởi vậy họ sẽ mang những nét đẹp riêng từ góc độ giới tính nữ. Họ có vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp tâm hon, hình thành từ việc khám phá những kinh nghiệm, những nét đặc trưng của giới nữ. Mức độ biểu hiện ý thức nữ tính ở chủ thé đạt đến cực độ khi người phụ nữ là chủ thé phát ngôn.
Người phụ nữ lúc này đã là chủ thé tư duy, chủ thé kinh nghiệm, chủ thé thâm mĩ, họ đủ tư cách dé đưa ra phát ngôn cho giới của mình. Biểu hiện của ý thức nữ tính không còn nằmở tư tưởng, hành vi mà đã cụ thé hóa thành phát ngôn của người phụ nữ, ví dụ như lên án, phản đối ý thức nam quyền, khang định người phụ nữ có vị thế bình đăng với đàn ông, mang giá trị cá nhân, có quyền sống và quyền hạnh phúc, nhận định vận mệnh của người phụ nữ được xây dựng dựa trên hoàn cảnh sinh tồn cá nhân,. Có phát ngôn cho giới là biểu hiện cao nhất của ý thức nữ tính ở chủ thé, bởi người phụ nữ đã đủ “độ chín” đề lên tiếng giành lấy quyền lợi cho giới nữ, họ có tư duy, có kinh nghiệm, có thâm mi, và họ “sẵn sàng” thoát li khỏi hệ tư tưởng nam quyền dé thiết lập vi thế bình đăng, độc lập, tự chủ trong xã hội. Đặt sắc thái nữ tính trong mối tương quan với văn học nữ tính, cần liên hệ sắc thái nữ tính với các mức độ biểu hiện ý thức nữ tính ở chủ thể.
Trong văn học nữ tính, ý thức nữ tính của chủ thé sẽ được thê hiện đến mức độ cao nhất — người phụ nữ là chủ thé phát ngôn. Vậy mức độ biểu hiện ý thức nữ tính chưa đạt đến cực độ — người phụ nữ chưa đưa ra phát ngôn cho giới của mình mà mới chỉ dừng lại ở chủ thê tư duy, chủ thể kinh nghiệm, chủ thê thâm mĩ, theo chúng tôi, đó là sắc thái nữ tính. 20 Những tác phẩm mang sắc thái nữ tính đảm bảo do tác giả nữ sáng tác và thể hiện ý thức nữ tính. Khi người phụ nữ có cho mình tư duy độc lập, tự chủ, việc thé hiện ý thức nữ tính phụ thuộc vào chính bản thân người phụ nữ.
Kê từ năm 1978, văn học nữ tính đã “trưởng thành” hơn, các tác giả không còn quá dé cao việc tìm kiếm, tạo ra chủ thé nữ tính, hướng tới khăng định vị thế của người phụ nữ và hình thành bầu không khí bình đăng nam nữ. Ý thức nữ tính được chú trọng và mối quan tâm của các tác giả nữ hướng trực tiếp về sự hoàn thiện chủ thé nữ tính. Ý thức nữ tính ở người phụ nữ được biểu hiện theo những mức độ khác nhau, vì vậy ở trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống như tương tác với nam giới hay tương tác với nữ giới, người phụ nữ vẫn có thé biểu hiện ý thức nữ tính. Bau không khí sáng tác ay da gop phan hinh thanh nén van hoc mang sắc thái nữ tính.
Chu thé nữ tinh trong văn học nữ tính đạt đến mức biểu hiện ý thức nữ tính cao nhất — người phụ nữ thoát li khỏi ảnh hưởng của hệ tư tưởng nam quyền dé đưa ra phát ngôn về vị thế xã hội, về quyền sống, quyền hạnh phúc,. Còn người phụ nữ trong tác phẩm mang sắc thái nữ tính không tách biệt mình khỏi hệ tư tưởng nam quyền, không đưa ra phát ngôn quyết liệt cho giới của mình mà họ tập trung thê hiện đời sống sinh hoạt và đời sống nội tâm. Người phụ nữ ấy đã có cho mình hành trình khám phá kinh nghiệm nữ tính và vẻ đẹp nữ tính nhờ có tư duy độc lập. Vì vậy, dé thé hiện sắc thái nữ tính trong sáng tác, tác giả nữ phải xây dựng được người phụ nữ trong tác phâm với ba vai trò là chủ thể tư duy, chủ thể kinh nghiệm, chủ thê thâm mĩ.
Người phụ nữ sẽ tập trung thé hiện kinh nghiệm nữ tính và vẻ đẹp nữ tính do họ đã có tư duy về vị thế bình đăng, quyền sống và quyền hạnh phúc. Các giai đoạn phát triển của văn học nữ tính Trung Quốc Giai đoạn đầu tiên trong tiến trình phát triển của văn học nữ tính Trung Quốc là “giai đoạn chủ nghĩa nữ quyền” [22, tr. 91], khởi dau từ phong trào văn hóa Ngũ Tứ. Tác phâm được xêp vào giai đoạn đâu tiên có thời gian xuât 21 bản/đăng tải từ năm 1919 đến năm 1937, được sáng tác nhằm mục đích phản đối sự áp bức phụ nữ của xã hội phong kiến phụ quyền.
Nội dung tác phẩm tập trung phản ánh những áp bức mà người phụ nữ phải chịu dưới chế độ phong kiến phụ hệ, nhân mạnh sự tàn bạo của chế độ này và kêu gọi người phụ nữ đứng lên giải phóng, theo đuôi tự do. Tiểu thuyết của Băng Tâm và Đinh Linh được coi là những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn đầu tiên của văn học nữ tính Trung Quốc. Mở đầu cho giai đoạn đầu tiên là sáng tác của Băng Tâm. Tiểu thuyết của Băng Tâm có nội dung ôn hòa, nhẹ nhàng, những mâu thuẫn chưa được bộc lộ gay gắt.
Hầu hết các tác phẩm của bà đều phê phán những tệ nạn tại thời điểm bấy giờ và hướng tới cải cách xã hội. Nội dung giàu triết lí, văn phong duyên dáng uyên chuyên làm nên phong cách sáng tác của bà. Một số tác phâm tiêu biểu của Băng Tâm có thể ké tới Hai gia đình (xuất bản năm 1919), Người chị của Trang Hong (đăng trên Than báo năm 1920), Siêu nhân (đăng trên Tiểu thuyết nguyệt báo năm 1921). Bên cạnh sáng tác của Băng Tâm, sáng tác của Đinh Linh cũng được đề cập nhiều trong giai đoạn đầu của văn học nữ tính.
“Đinh Linh là người phát ngôn cho phụ nữ thành thị, kêu gọi và phản đối sự áp bức mà chế độ phụ quyền đem đến cho người phụ nữ. 92] Tác phẩm tiêu biéu cho giai đoạn này của Dinh Linh là Mộng Kha (đăng trên Tiểu thuyết nguyệt báo năm 1927) và Nhật kí cua Sa Phi (đăng trên Tiểu thuyết nguyệt báo năm 1928). Các tác phẩm của Tiêu Hồng được xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1935 đến năm 1939 thé hiện sự chuyên giao từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ hai của văn học nữ tính. Tiểu thuyết của bà trong khoảng thời gian ấy không chỉ phản ánh sự phản kháng của phụ nữ dưới sự áp bức của chế độ phong kiến phụ hệ (giai đoạn sáng tác thứ nhất) mà còn thé hiện chủ dé cách mạng xã hội (giai đoạn sáng tác thứ hai).
Sinh tứ tràng (xuất bản lần đầu vào 22 năm 1935) là tác phẩm tiêu biểu của Tiêu Hong, đánh dấu sự chuyên tiếp từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ hai của văn học nữ tính. “Giai đoạn khí thế phụ nữ” [22, tr. 93] là giai đoạn thứ hai của văn học nữ tính Trung Quốc, các tác phâm được xếp vào giai đoạn này có thời gian xuất bản/đăng tải khoảng từ năm 1937 đến năm 1950, trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Nhật của dân tộc Trung Hoa. Các nhà văn nữ có sáng tác trong giai đoạn này đã lựa chọn từ bỏ việc sáng tác văn học từ góc nhìn của người nữ, thay vào đó là bắt chước lối viết của nam giới, hòa nhập với làn sóng của thời đại, lồng ghép con đường giải phóng phụ nữ với sự nghiệp giải phóng toàn dân tộc Trung Hoa, hướng tới cách mạng xã hội và cuộc kháng chiến toàn quốc.
Nét đặc trưng trong sáng tác giai đoạn nay là chuyền từ tinh chủ quan sang tính khách quan, từ việc người nữ tự biểu dat sự thay đổi ở bản thân sang biểu đạt sự biến đối của xã hội rộng lớn.