Chương 1: Nông thôn và người nông dân trong bối cảnh văn học thời kỳ đổi mới. Chương 2: Nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng nhìn từ phương diện nội dung. Chương 3: Nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng nhìn từ phương diện nghệ thuật. 15 z CHƢƠNG 1 NÔNG THÔN VÀ NGƢỜI NÔNG DÂNTRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.
Tiểu thuyết về nông thôn trƣớc năm 1986 1. Giai đoạn 1945-1954 Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta được hưởng nền độc lập, tự chủ sau hơn 80 năm bị đô hộ. Đời sống của người dân từng bước được cải thiện, nạn đói dần dần được đẩy lùi. Người nông làm chủ ruộng đất, xây dựng cuộc sống mới.
Đặc biệt, người nông dân được trực tiếp tham gia vào kháng chiến kháng chiến chống Pháp bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc. Đó là lý do văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1954 đã phát triển mạnh mẽ và phong phú cả về nội dung và hình thức. Văn học thực sự trở thành lực lượng chính phục vụ cách mạng. Trong đó, vấn đề về hình tượng nghệ thuật với tư duy mới tạo nên được nền móng vững chắc, đảm bảo sự phát triển rực rỡ của văn học cách mạng những năm về sau.
Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn này nổi bật lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp. Hai sự kiện này thể hiện rất rõ trong văn học: Con trâu củaNguyễn Văn Bổng, Làng của Kim Lân, Địa chủ giết hại gia đình tôi của Nguyễn Thị Chiên, Gợi khổ củaTrọng Hứa, Bóng nó còn bám lấy xóm làng của Nguyễn Tuân, Thửa ruộng vỡ hoang vủa Xuân Trường. Tiểu thuyết giai đoạn này, hình ảnh nông thôn và người nông dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp được phản ánh trong tầm tư tưởng mới - vừa truyền thống vừa hiện đại. Những con người mới trong sản xuất, mới trong nếp sống, tư duy được chú ý phát hiện và đề cao trong nhiều tác phẩm.
Trên diễn đàn văn học nghệ thuật, lần đầu tiên, những người tri thức, công nhân, nông dân trở thành những hình tượng trong văn học giai đoạn 1945- 1954. Họ đại diện cho vẻ đẹp của trí tuệ, cho lý tưởng, cho sức mạnh thời đại 16 z với sức chiến đấu kiên cường đầy ý thức của giai cấp. Văn học nghệ thuật với sức mạnh riêng biệt đã khai thác hình tượng người nông dân, lực lượng quần chúng với những tâm lý, tính cách rất dân tộc và cách mạng. Giai đoạn 1955 - 1964 Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc nước ta cơ bản hòa bình, tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho cả nước và là hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam chống đế quốc Mỹ.
Một loạt những tác phẩm có sức hút vang dội như:"Đất nước đứng lên" của Nguyên Ngọc được tặng giải nhất về truyện và ký của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955, "Sống mãi với thủ đô" của Nguyễn Huy Tưởng, "Cao điểm cuối cùng" của Hữu Mai và "Trước giờ nổ súng" của Lê Khâm, “Mười năm" của Tô Hoài, "Vỡ bờ" của Nguyễn Đình Thi… đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và có tính cổ vũ chiến đấu cao. Trong giai đoạn này, thể loại văn xuôi được mở rộng trên nhiều phạm vi về đề tài hợp tác hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, nắm bắt hình thức sản xuất tập thể, về sự kiện cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp. Trong giai đoạn này, có nhiều tác phẩm thuộc tiểu thuyết nông thôn ra đời viết về quê hương đất nước bắt nhịp được với thời đại như: Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Truyện Anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng, Những người dân cày của Sao Mai, Xung đột của Nguyễn Khải… Nội dung bao trùm văn học giai đoạn này là những suy nghĩ trăn trở của người lao động trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các nhà văn cũng đã chỉ ra được những tội ác của giai cấp địa chủ đồng thời ca ngợi sức mạnh quật khởi của người nông dân, khẳng định được những kết quả mà họ giành được trong công cuộc cải cách ruộng đất.
Nhiều tác phẩm phản ánh khá sâu sắc về phong trào hợp tác xã, về cuộc đấu tranh giữa tập thể và cá thể, giữa tư tưởng tư hữu của người sản xuất nhỏ với tư tưởng xã hội chủ nghĩa của người nông dân đi 17 z theo đường lối giai cấp công nhân, nông trường, doanh nghiệp. Các nhà văn cũng tập trung khai thác cuộc đấu tranh giữa ta và địch, giữa cái cũ và mới đang tồn tại ở những vùng sâu vùng cao nhằm thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân. Giai đoạn 1964 - 1975 Đây là giai đoạn cả nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Nông thôn và người nông dân vừa là hậu phương lớn chi viện cho tuyến lửa miền Nam, vừa là tiền tuyến chiến đấu chống sự phá hoại, leo thang ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.
Với quan điểm lấy văn học là vũ khí chiến đấu phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng, các nhà văn trở thành những người chiến sĩ đấu tranh tích cực trên mặt trận văn hóa. Vì vậy, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn 1964 - 1975 phản ánh chân thực, sinh động đời sống chiến trường, sự ác liệt, những hy sinh, tổn thất. trong chiến tranh. Đề tài viết về nông thôn trong giai đoạn chống Mỹ ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng nhưng cũng đạt nhiều thành tựu cả về tác phẩm lẫn đội ngũ sáng tác, thể hiện sự đa dạng về đề tài, phản ánh được những mục tiêu của cách mạng giai đoạn này, thể hiện lòng yêu nước, truyền thống anh hùng của đất nước, thể thiện tình nhân ái, mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp, thể hiện rõ lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhiều tác phẩm đã thành công khi khắc họa, ca ngợi ý chí chiến đấu, tinh thần lao động sản xuất của người nông dân. Tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn văn học này là: Bão biển, Đất mặn củaChu Văn,Cửa sông của Nguyễn Minh Châu, Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải. Giai đoạn 1975 - 1985 Là chặng đường văn học 10 năm sau chiến tranh (1975-1985), chuyển tiếp văn học sử thi thời chiến tranh sang nền văn học thời hậu chiến - cũng được coi là giai đoạn đổi mới của văn học. Nhưng ở giai đoạn này đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại.
Những tác phẩm văn học ra đời trong giai đoạn này phần lớn được sáng tác 18 z bởi các nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến: kí ức và cảm xúc về chiến tranh còn tươi mới; tư liệu và vốn sống còn tràn đầy; độ lùi thời gian chưa nhiều cùng ý thức trách nhiệm và sự nhạy cảm nghệ sĩ đã dẫn đường cho văn học tự tìm cách lấp đầy những khoảng trống lịch sử. Cảm hứng sáng tác giai đoạn này đi vào lí giải sâu hơn và sát thực tế hơn những vấn đề mà các nhà văn đang đau đáu, trăn trở. Truyện viết về chiến tranh được nhìn từ trong sâu thẳm số phận và những bí ẩn trong thế giới tinh thần con người: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh… Tiểu thuyết về nông thôn ở giai đoạn này bắt đầu có sự chuyển mình ở chiều sâu đời sống nội tại với những trăn trở tìm tòi âm thầm nhưng quyết liệt, đó là nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm ăn ở hợp tác cũ khi chưa có khoán được đề cập khá quyết liệt: Nhìn dưới mặt trời của Nguyễn Kiên, Bí thư cấp huyện của Đào Vũ… Hệ thống các nhân vật được đặt vào những tình huống của môi trường sống đời thường để nhận ra những nghịch lí cuộc sống. Khuynh hướng triết luận và khả năng khái quát cao, vừa có sức nén của một cuốn tiểu thuyết để tự phản tỉnh, nhận thức.
Nhờ sự phân tích tâm lí sắc sảo khiến cho các tác phẩm thời kỳ này giàu sức nặng tư tưởng: “đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lí,báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam”{7}. Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới 1986 1. Sự đổi mới về đề tài Do nhu cầu về sự đổi mới văn học, tiểu thuyết từ 1986 đến nay đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Trong nhiều năm đất nước chìm trong chiến tranh, nhiều nhà văn không có điều kiện sáng tạo nghệ thuật, họ phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Khi đất nước thống nhất, các nhà văn tự tìm kiếm một lối viết mới, coi trọng nội dung nhân văn và hình thức mới mẻ. Hơn nữa, tiểu thuyết cũng là thể loại có khả năng miêu tả sự bề bộn, phức tạp của xã hội. Các nhà 19 z văn cũng có điều kiện phát huy các yếu tố kỹ thuật, nghệ thuật một cách dân chủ, tạo lập được tầm nhìn và góc nhìn đa chiều, đa diện về đời sống nhằm thúc đẩy nhanh sự tiếp nhận và hội nhập với văn học thế giới. Tiểu thuyết từ 1986 đến nay với đội ngũ sáng tác và lý luận, phê bình văn học đông đảo đã khai thác hiện thực cuộc sống trên nhiều phương diện: đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ.
Có thể khẳng định, vấn đề nông dân và nông thôn là đối tượng quan tâm hàng đầu của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam với những mảng đề tài phong phú từ hiện thực chính trị tới cuộc sống đời tư, từ sinh mệnh lớn lao của cả cộng đồng tới số phận từng cá nhân cùng bao vấn đề bề bộn phức tạp của đời sống đã đem lại cho văn học thời hậu chiến một gương mặt mới: chân thực, đậm chất nhân đạo và gần gũi với con người. Giờ đây trước cơn lốc xoáy của nền kinh tế thị trường, của quá trình đổi mới và hội nhập; đặc biệt là công cuộc hiện đại hóa đất nước dẫn theo những cơ sở văn hóa, không gian văn hóa bao đời của dân tộc ta nay bị thay đổi, xáo trộn bào mòn. Người nông dân không còn làm nông nghiệp thuần túy nữa mà chuyển sang nông nghiệp hóa nông thôn, dẫn đến tệ nạn xã hội. Nhiều người nông dân thất nghiệp hay bỏ làng quê ra thành phố làm thuê là nguyên nhân của rất nhiều tệ nạn xã hội.