Chương 1 TÔNG QUAN NGHIÊN cúr ỉ. Khái niệm Nhiễm khuẩn bàn tay. Là tình trạng bàn tay có các vi sinh vật gầy bệnh/ có hại trong đó có Staphylococcus aureus. Có rất nhiều loại vi sinh vật ở tay NVYT, trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chọn 01 loại là Staphylococus aureus (tụ cầu vàng), vì đây là loại vi khuẩn mang tính chỉ điểm vệ sinh đã được rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước lựa chọn[ll], [15], [19], [21], [24], [28], [29], [31], Rửa tay bằng xà phòng (RTXP)‘.
Là hành vi rửa tay với nước và xà phòng (dạng lỏng hoặc đặc). Các nguồn lây và phương thức gây nhiễm ban bàn tay 2. Các nguồn lây và phương thức chung Qua thực phẩm (kể cả nước) và ngược lại: Vi khuẩn từ thực phẩm sống hoặc chưa nấu chín hoặc bị ô nhiễm sẽ bám dính vào bàn tay, những bàn tay có vi khuẩn lại truyền vi khuẩn sang các thực phẩm khác. Ngược lại, vi khuẩn từ tay bấn lại gây ô nhiễm sang thục phẩm tạo ra vòng xoắn lây nhiễm.
Qua không khí: Bàn tay bị bám dính bởi các loại vi khuẩn gây bệnh lơ lửng trong không khí bị ô nhiễm hoặc các hạt khí dung (nước mũi do hắt hơi, nước bọt do ho. Qua tiếp xúc với các chất bẩn, vết thương, bề mặt bẩn: Đây là phương thức phố biến và đa dạng nhất, do phơi nhiễm với các chất thải bẩn như phân, nước tiểu, rác, bề mặt bị nhiễm bẩn, tích tụ chất bẩn ở đầu móng tay. gây nhiễm bẩn bàn tay và bàn tay bị nhiễm bẩn có thể sẽ lan truyền cho người khác qua bắt tay, thăm khám, sờ mó. Bàn tay đóng vai trò trung gian trong việc làm lan truyền các bệnh dịch qua đường tiêu hóa 3.
Nguồn lây và phương thức liên quan đến bàn tay của NVYT Bản thân Nhân viên y tế: NVYT có nguy cơ bị nhiễm khuẩn từ bệnh nhân đồng thời cũng có thể là nguồn truyền nhiễm làm lan truyền vi khuẩn cho BN khi tiến hành các thủ tục thăm khám. Một số loại vi khuẩn thường gặp ở tay NVYT 5 là Tụ cầu vàng, Liên cầu [ì tan huyết nhóm A, trực khuẩn mủ xanh. Đã có rất nhiều báo cáo trên thế giới về tình trạng nhiễm tụ cầu vàng kháng Methicillin trên da và đầu ngón tay NVYT [19], [21], [24], [28], [29], [31], Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: Cũng giống nhu NVYT, BN và người nhà BN là những người đang nhiễm khuẩn hoặc mang mầm bệnh không triệu chứng và cũng là nguồn lây truyền VK cho tay NVYT hoặc bị nhiễm chéo VK từ tay NVYT. Môi trường bệnh viện: Môi trường BV bao gồm: Không khí, nguồn nước, các bề mặt, xe cộ, rác thải.
Môi trường BV vừa là nguồn chứa vừa là đường lan truyền các tác nhân gây NK bàn tay NVYT. Nguồn nước, không khí trong BV vừa là nguồn chứa song cũng là đường lây các tác nhân gây VK và tác động rất lớn đến bàn tay của NVYT. Rất nhiều vsv gây bệnh có thể có mặt trong nước/không khí BV như Tụ cầu vàng, Liên cầu, Trực khuẩn mủ xanh,. và có thể bám dính vào bề mặt các vật dụng, bàn tay của NVYT.
Ngoài ra chất thải rắn của BV, dụng cụ, quần áo bẩn cũng là nguồn chứa tác nhân gây NK bàn tay cho NVYT[10]. Các yeu to ảnh hưởng tói hành vi rửa tay xà phòng 3. Chính sách, quy định về rửa tay xà phòng Nhằm quản lý tất cả các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn, xây dựng chính sách, triển khai giám sát và báo cáo tại các cơ sở y tể, cần phải có một bộ khung về phòng ngừa kiểm soát NKBV, đó là: ■ Hội đồng chống nhiễm khuẩn ■ Khoa chống nhiễm khuẩn ■ Mạng lưới chống nhiễm khuẩn Quy chế về hội đồng Chống Nhiễm Khuẩn và khoa Chống Nhiễm Khuẩn đã được Bộ Y tế ban hành và yêu cầu các cơ sở y tể thực hiện từ năm 1997 [3]. Quy định vê rửa tay xà phòng tại bệnh viện phải được viết bàng văn bản dựa theo công văn sổ 7517/BYT-ĐTr của Bộ Y tế ngày 12/10/2007 về việc hướng dẫn quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng xà phòng.
Việc thực hiện quỵ định về RTXP đòi hỏi sự phối hợp và tham gia của tất cả các đội ngũ nhân 6 viên tại các khoa phòng vì vậy việc xây dựng chính sách quỵ định về RTXP không chỉ do Hội đồng (Ban) CNK xây dựng mà phải có sự tham gia ý kiến trực tiếp của Bác sĩ Trưởng (Phó) các khoa, Điều dưỡng trưởng các khoa — thay mật NVYT trong khoa có ý kiến để xây dựng được chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện, tạo được sự đồng thuận, có như vậy mới mong duy trì được lâu dài chính sách, quy định đó. Chính sách, quy định RTXP còn phải bao gồm công tác tập huấn, đào tạo, truyền thông vì chương trình huấn luyện, đào tạo cho NVYT là cần thiểt để tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của VSBT, nâng cao kiến thức về quy trình RTXP và chấp hành đúng, tuân thủ những kỳ thuật rửa tay. Các chương trình đào tạo phải ket hợp chặt chẽ và chương trình định hưởng cho nhân viên mới cũng như các hoạt động đào tạo liên tục (tại bệnh viện hoặc khoa phòng). Đồng thời cũng phải đào tạo cho nhân viên biết theo dõi và thông báo các tác dụng phụ của hoá chất VSBT để bệnh viện có hướng khắc phục và giải quyết.
Và một điều quan trọng không thể thiếu đó là công tác giám sát và tổng hợp, báo cáo kết quả cho các bên liên quan để có biện pháp giải quyết thích hợp cũng như xây dựng được chế tài thưởng phạt rõ ràng. Kết quả giảm sát (thường quy, đột xuất) sẽ được sử dụng cho khen thưởng hoặc phạt (nhắc nhở, phạt hành chính.) đối với các cá nhân hoặc khoa phòng vi phạm. Trang bị phương tiện rửa tay xà phòng Phương tiện RTXP có ảnh hưởng rõ rệt đến công tác RTXP của NVYT. Việc trang bị đay đủ các phương tiện rửa tay (bồn rửa tay, xà phòng, khăn lau tay sử dụng 1 lần) sẽ giúp cải thiện tình trạng RTXP ở NVYT.
Tuy nhiên, tại Đắk Lẳk, hầu hết các bệnh viện đều thiếu phương tiện RTXP, đặc biệt là bồn rửa tay và khăn lau tay sử dụng một lần ở khu vực buồng bệnh. Kiến thức và thực hành của nhân viêny tế đối với RTXP Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến RTXP là kiến thức và thực hành của NVYT đối với tầm quan trọng của việc RTXP trong phòng chống NK bàn tay của NVYT nói riêng và chống NKBV nói chung. Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy rang vẫn còn một tỷ lệ lớn NVYT chưa có kiến thức đầy đủ và chưa quan tâm thực hành RTXP trong quá trình làm việc, điều này sẽ làm giảm hiệu quả của công tác phòng chống NKBV [12], [13], [28]. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 4.
Lịch sử thực hành vệ sinh bàn tay trong phòng chống NKBV Ngay từ năm 1822 các dược sĩ của Pháp đã khuyến cáo các thầy thuốc nên sử dụng nước Clo để rửa tay khi thăm khám bệnh nhân. Năm 1843, Oliver Wendell Holmes đã đưa ra kểt luận ràng sốt hậu sản là do bàn tay của thầy thuốc. Ignaz Semmelweis đã rút ra kết luận là sốt hậu sản là do “cức tiếu phần chết ”, từ đó ông đã đưa ra chính sách rửa tay bắt buộc bằng dung dịch Clorine khi NVYT đỡ đẻ. Mặc dù thời điểm đó người ta vẫn chưa biết về vi trùng song nhờ 2 kết quả nghiên cứu trên, thực hành rửa tay được chấp nhận như một trong những biện pháp quan trọng nhất phòng ngừa tác nhân gây bệnh ở các cơ sở y tế.
Đen năm 1961, Cục Sức Khỏe Cộng Đồng của Mỹ chính thức công bố kỹ thuật rửa tay bàng xà phòng dành cho nhân viên y tể bệnh viện, cụ thể là nên rửa tay bằng nước với xà phòng ngay trước và sau khi thăm khám bệnh nhân 1-2 phút. Tiếp đến, giai đoạn 1975 và 1985, Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ(CDC) đã xuất bản tài liệu hướng dẫn về thực hành rửa tay trong các BV. Giai đoạn 1988 và 1995, Hiệp hội Chống nhiễm khuẩn Mỹ (APIC) cũng lại xuẩt bản các hướng dẫn về rửa tay và khử khuẩn bàn tay [23]. Tại Việt Nam, việc rửa tay của nhân viên y te đã được đưa vào qui định của y vãn ngay từ thời kỳ Pháp thuộc và trong tất cả các chương trình đào tạo thầy thuôc từ sơ cấp đến đại học.
Tuy nhiên, hành vi này mới chỉ chính thức được quy định chi tiết tại Công văn số 17/BYT- ĐTr ngày 12/10/2007 [1], [3]. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Hussein và cộng sự tại Mỹ, đã tiến hành quan sát về thực hành vệ sinh bàn tay của các nhân viên y tê được thực hiện tại một trung tâm chăm sóc thuộc trường đại học bởi một quan sát viên độc lập ở tất cả những đơn vị chăm sóc tích cực của khoa Nhi và khoa Nội trước và sau những chương trình giáo dục về vệ sinh bàn tay. Nghiên cứu cũng được thực hiện để xác định kiến thức về vệ sinh tay. Trước những can thiệp bằng giáo dục, thói quen vệ sinh tay trung bình ở tất 8 cả các khu điều trị tích cực là 54% với sự khác nhau rõ rệt giữa khoa Nội và khoa Nhi (p<0,0001) (35% so với 90%).
Rửa tay truyền thống so với rửa tay bằng cồn là 72% và 25%. Sau can thiệp, có một sự gia tăng đáng kể (p<0,0001) trong thói quen vệ sinh tay ở khoa Nội (81%). 46% NVYT cho rang việc xoa tay bằng cồn không có tác dụng đổi với nhiễm tụ cầu vàng kháng Methixilỉin (MRSA) và 21% tin rằng việc xoa tay bằng cồn không thể làm sạch được bàn tay dính đất bẩn. Nhìn chung, thói quen vệ sinh tay ở khoa Nội được cải thiện rõ rệt sau can thiệp, và gia tăng khả năng sử dụng việc xoa tay bàng cồn.
Tuy nhiên, việc rửa tay truyền thống vẫn được ưa chuông hơn [25], [28], Một nghiên cứu tại Nhật, tiến hành đếm VK gây bệnh trên bàn tay NVYT trước khi tiến hành rửa tay là 9,1 x 100000 cfu/ bàn tay và sau rửa tay chỉ còn 0,38 cfu/bàn tay. số BN dương tính với MRSA trước khi triển khai hoạt động rửa tay thường qui là 15/402 chiếm 3,7% và sau khi triển khai hoạt động thường qui về rửa tay là 5/411 chiếm 1,2%. Trước khi triển khai phân lập được 13 chủng phụ týp của MRSA , sau triển khai chỉ phân lập được 5 chủng phụ týp MRSA.