CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA QUYỀN THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.1 Thừa kế quyền sử dụng đất một trong những quyền cơ bản của cá nhân.2 Thừa kế quyền sử dụng đất - một quyên dân sự đặc thù. + CHƯƠNG II : QUYỀN THỪA KẾ QUYEN SỬ DỤNG DAT- CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIÊN ÁP DỤNG. Khái niệm quyền thừa kế sử dụng đất. Nguyên tac của quyền thừa kếquyền su dụng dat.
Nội dung của quyền thừa kếquyên sử dụng đất. Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chế định quyền thừa kế quyền sử dụng dat. _ CHUONG I CO SO LY LUAN CUA QUYEN THUA KE QUYỀN SỬ DỤNG DAT _ | Trong chương này, chúng tôi giải trình những vấn đề chung cơ bản nhất về lịch sử ra đời của quyền thừa kế và khẳng định đó là một trong những quyền cơ bản của công dân. Trên cơ sở những luận điểm chung đó chúng tôi đi vào phân tích quyền thứ kế quyền sử dụng đất - một quyển dân sự đặc thù của cá nhân công dân Việt Nam.
Thừa kế-một trong những quyền cơ bản của cá nhân được ghi nhận trong các văn ban pháp luật từ thời phong kiến đến nay. Chế độ phong kiến Việt Nam trải dài qua nhiều thế kỷ. Mỗi Nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lý đất nước. Đáng chú ý nhất là các bộ luật của các triều đại phong kiến như Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815).
Ngoài Bộ luật, các Nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn đơn hành như chiếu, chỉ dụ, lệnh của vua. Nội dung của các bộ luật điều chính nhiều quan hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật theo quan niệm hiện nay. Trong đó có những quy định về thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Trog luật Hồng Đức quy định các con (con trai, con gái, con nuôi) đều có quyền thừa kếVủa cha, mẹ.
Moi người đều có quyền để lại hương hoả cho con cháu. Điều 390 quy định: “Cha, mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hoả trong chúc thư ". Còn Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai. Vấn đề thừa kế theo di chúc được quỹ định tại điều 388 : " Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo đúng.
Vi phạm điều nay sẽ mất phần của mình ". Xét về nội dung, các quy định về thứkế trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long tương đối chặt chẽ và đầy đủ. Phần nào đó luật Hồng Đức có quy định tiến bộ hơn luật Gia Long về diện được hưởng thừa kế. Nghĩa là không phân biệt điện thừa kế là con tria_ hay con gái, con đẻ hay con nuôi.
Nhìn chung các Bộ luật này cũng phản ánh tình hình kinh tế xã hội qua từng thời kỳ của các Nhà nước phong kiến. Đó là quan hệ sản xuất phong kiến, kéo theo đó là những tư tưởng phong kiến như : " Trung quân - Ái quốc "; "Trọng nam khinh nữ". Do đó các Bộ luật quy định về quyền thừa kế của cá nhân phải chịu ảnh hưởng những tư tưởng phong kiến là tất yếu. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, bước vào thời kỳ Pháp thuộc, ở Việt Nam áp dụng các Bộ luật sau : Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883; Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật 1936.
Với chính sách " chia dé trị ", thực dân Pháp đã chia cắt đất nước ta thành 3 mền : Bac, Trung, Nam. Vi thế việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thời kỳ này không thống nhất trong cả nước mà theo đạo luật của từng miền. Song các Bộ luật này đều quy định về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Sau Cách mang tháng Tam năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.
Một Nhà nước còn rất non trẻ nhưng lại phải đối phó nhiều vấn dé phức tạp về chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, an ninh, quốc phòng. Và nhiệm vụ của Nhà nước được đặt lên hàng đầu lúc này là phải bảo vệ, củng cố thành quả cách mạng, kể cả những vấn dé liên quan đến lĩnh vực dân sự. Để đảm bảo tho các quan hệ xã hội về dân sự phát triển bình thường, đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống pháp luật, Vì vậy, mặc dù phải đối phó với biết bao khó khăn của những ngày đầu thành lập Nước, ngày 22-5-1950, Hồ Chủ Tịch vẫn ký sắc lệnh số 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ nước ta. Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái, vợ goá, các con đã thành niên có 10 quyền xin chia tài sản; con cháu hoặc vợ goá, chồng goá không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết ; các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận được.
Hiến pháp năm 1946 ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đây khó khăn phức tạp ở buổi ban đầu của cách mạng, quan hệ đến sự mất còn của chính quyền non trẻ Việt Nam. Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc đe doa nền độc lập mà nhân dân ta Vừa giành được. Trong hoàn cảnh cấp bách đặc biệt nghiêm trọng đó, Hiến pháp được xem là công cụ đặc biệt quan trọng để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng, củng cố và thực hiện quyền lực của nhân dân Việt Nam vừa giành được. Chỉ mười lăm tháng sau khi giành chính quyền, Quốc hội khoá I nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thông qua bản hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam(1), một hiến pháp dân chủ và tiến bộ ở Đông Nam Á lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 chưa đưa chế định thừa kế vào trong những quyền co ban của công dân bởi điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của nước nhà. Nhưng sau đó Sắc lệnh số 97/SL ngày 22-5- 1950 của Hồ Chủ Tịch đã kịp thời quy định về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật, quy định một số nguyên tắc mới, trong đó có lĩnh vực thừa kế đã bổ sung vào hệ thống pháp luật của giai đoạn này một chế định quan trọng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với nền dân chủ nước ta. Những tỉnh thần của chế định này tuy chưa hoàn thiện, nhưng vẫn là nền tang cơ sở và phù hợp với chế định thừa kế trong giai đoạn hiện nay. f Hiến pháp 1946 được thông qua ngày 9/11/1946.
II Hiến pháp năm 1959(1) ra đời trong điều kiện hoàn cách mạng Việt Nam đã có những thay đổi mới về thế và lực. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ký hiệp định Giơnevơ về Việt Nam. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Nam còn tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chế độ Sài Gòn.
Cách mạng Việt Nam phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, nhằm thống nhất tổ quốc. " Chỉ năm năm sau ngày hoàn toàn giải phóng (1955 - 1959 ), tình hình kinh tế xã hội Miền Bắc đã có những biến đổi lớn - Luc lượng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc hiện nay đã mạnh hơn hẳn lực lượng tư bản chủ nghĩa. Sản lượng thóc tăng từ 3 triệu 60 vạn tấn đến 5 triệu 20 vạn tấn. Trong công nghiệp, từ 17 xí nghiệp quốc doanh (1955) đã tăng lên 107 xí nghiệp quốc doanh (1959), 43,0% tổng số hộ nông dân đã vào hợp tác xã nông nghiệp, 53% tổng số thợ thủ công đã vào Đúc tổ chức hợp tác xã.
Về văn hoá, đã căn bản xoá xong nạn mù chữ, so với năm 1955, năm 1959, số học sinh phổ thông tăng gấp 2 lần, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng gấp 6 lần, số sinh viên đại học tăng gấp 7 lần, số bác sỹ y khoa tăng 80%. Quan hệ giai cấp trong xã hội Miền bắc đã thay đổi giai cấp địa chủ phong kiến đã bị đánh đổ, giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh và tăng cường lãnh đạo đối với Nhà nước. Giai cấp nông dân đang đi vào con đường hợp tác hoá. Liên minh công nông ngày càng được that chặt.
Những người trí thức cách mang góp phần tích 12 cực vào công cuộc xây dựng nước nhà. Các nhà tư sản dân tộc nói chung đều tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa" 9) Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới với những nhiệm vụ mới. Hiến pháp năm 1959 ra đời, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng Việt Nam - Hiến pháp năm 1959 củng cố nền móng dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp năm 1946 và phát triển chủ nghĩa xã hội, xây dựng và tăng cường một bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân trên các nguyên tắc tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; xây dựng và hoàn thiện từng bước hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng đó, việc tăng cường các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cần thiết và chế định về quyền thừa kế của cá nhân lần đầu tiên được đưa lên thành nguyên tắc ; tại điều 19 Hiến pháp năm 1959 quy định : " Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân " t2, ) Điều 19 - Hiến pháp năm 1959.
t2 Bình luận khoa học hiển pháp 1992- Trần Thĩ Tuyết - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật. 13 Căn cứ nguyên tac trên, luật hôn nhân gia đình nam 1959 đã cụ thể hoá thành quy định : " Các con đều có quyền lợi và nghĩa vu ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân aA ˆ oy `* ad z kả As T1 (1) biệt con trai, con giá, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi : Hiến pháp năm 1959 đã đề ra nguyên tắc định hướng cho các ngành luật xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh quan hệ thừa kế.