Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương 4 Xử lý dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện 2.1 Các khái niệm liên quan về bảo hiểm xã hội 2.1 Bảo hiểm Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó .2 Bảo hiểm xã hội Theo khái niệm Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13[7] BHXH: “Là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Như vậy có thể thấy đây là hình thức phân phối lại (mang tính xã hội) đặc trưng: đóng góp không phụ thuộc vào rủi ro cá nhân mà phụ thuộc vào thu nhập hoặc lương của cá nhân đó (chia sẻ rủi ro). Đây là bộ phận chủ yếu, trụ cột, đón vai trò quyết định của hệ thống ASXH. “BHXH là sự bảo vệ mang tính chất xã hội đối với người lao động và gia đình họ thông qua việc đóng góp vào Quỹ BHXH để trợ cấp cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập gây ra bởi các biến cố như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già, thất nghiệp”.
BHXH được chia làm 2 loại: + BHXHBB là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia (Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH 2014[7]). Loại hình này gồm 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. + BHXHTN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất (Khoản 3 Điều 3 Luật BHXH 2014[7]). 8 + Khu vực chính thức (KVCT) là khu vực mà các cơ quan, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và có quan hệ lao động chính thức theo hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, người lao động làm việc cho các cơ sở này và được hưởng tiền lương, tiền công cũng như các chế độ phúc lợi khác theo thỏa thuận ký trong hợp đồng.
+ Khu vực phi chính thức (KVPCT) bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, tự kinh doanh có thuê hoặc không thuê mướn lao động, hoạt động với mục tiêu chính là tạo việc làm và thu nhập cho các thành viên tham gia vào cơ sở sản xuất kinh doanh. Ở các nước đang phát triển, KVPCT bao gồm việc làm nông nghiệp và phi nông nghiệp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ mà hầu hết là tự kinh doanh với mức thu nhập của người lao động thường thấp hơn so với mức thu nhập của những người làm ở các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn hay ở khu vực công. Ở các nước phát triển, KVPCT hàm ý đến những hoạt động trái luật pháp hoặc được che dấu, với các hậu quả tiêu cực như trốn đóng thuế, không BHXH, lạm dụng trợ cấp xã hội, cạnh tranh không lành mạnh.2 Các nội dung về bảo hiểm xã hội tự nguyện 2.1 Các đặc tính về bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN là một chính sách của BHXH, do đó về cơ bản nó có những đặc điểm của BHXH nói chung. Ngoài ra, BHXHTN còn có những đặc điểm riêng: - Việc tham gia hay không tham gia là hoàn toàn tự nguyện.
Người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình. So với BHXHBB, cơ chế hoạt động của BHXHTN linh hoạt hơn. - Trong lĩnh vực BHXHTN sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dịch vụ, được xem như là sản phẩm vô hình, người dân khi tham gia thường không được thụ hưởng ngay mà sau một thời gian dài hoặc khi có sự cố xảy ra thì mới được hưởng chế độ hưu trí hoặc tử tuất khi đó người dân mới thấy được lợi ích rõ ràng của sản phẩm mặc khác, vì là sản phẩm dịch vụ nên người dân không thể “chạm” vào dịch vụ được nên khách hàng chỉ có thể nhận biết được dịch vụ thông qua các lợi ích mà không thể nào nhận biết được các thuộc tính khác của nó như địa điểm, con người, trang thiết bị, mẫu hợp đồng .vv… 9 - Khi nghiên cứu sâu vào thuộc tính BHXHTN lợi ích mang lại mà người dân nhận thức được. Mức độ nhận thức về lợi ích BHXHTN phụ thuộc vào sự nhận biết về dịch vụ thông qua sự hiểu biết, kinh nghiệm hoặc những thông tin mà người dân thu thập được có liên quan đến dịch vụ.
Lợi ích dịch vụ BHXHTN có thể được người dân tiếp cận khác nhau và điều này tùy thuộc vào nhu cầu đa dạng của họ. - Như vậy, thông qua những lợi ích và nhận thức mà họ có được sẽ là các nhân tố tích cực giúp người tiêu dùng đánh giá về các thuộc tính của dịch vụ BHXHTN có đáp ứng được bản thân và gia đình hay không từ đó người dân thể hiện ý định muốn hay không muốn tham gia BHXHTN và điều này cho ta thấy được việc đo lường các thuộc tính hay nhân tố hiểu biết về BHXHTN sẽ giúp ta giải thích được lý do mà người dân muốn tham gia dịch vụ.2 Những quy định cơ bản về bảo hiểm xã hội tự nguyện (a) Đối tượng áp dụng Đối tượng áp dụng theo Khoản 4, Điều 2 Nghị định 134/2015/NĐ-CP[8]: “Người tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXHBB” bao gồm các đối tượng: - Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 2018; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi; - Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu, khu phố; - Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương; - Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; - Người nông dân, người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; - Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH; - Người lao động giúp việc gia đình; người tham gia khác. (b) Nguyên tắc bảo hiểm xã hội tự nguyện 10 Nguyên tắc BHXHTN được quy định tại Điều 5 Luật BHXH năm 2014[7]: - Mức đóng BHXHTN do người tham gia lựa chọn. Thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn làm căn cứ xác định mức hỗ trợ là mức chuẩn hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định tại thời điểm đóng (giai đoạn năm 2016-2020 là 700.000 đồng/người/tháng), cao nhất bằng 20 lần lương cơ sở tại thời điểm đóng (theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP[9] của Chính phủ kể từ ngày 01/7/2019 mức lương cơ sở tại là 1.
(c) Phương thức đóng và mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo quy định tại Điều 09 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP[8]: - Đóng hằng tháng; đóng 03 tháng một lần; đóng 06 tháng một lần; đóng 12 tháng một lần; đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần; đóng một lần cho những năm còn thiếu cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu. - Trường hợp người tham gia BHXH đã đủ tuổi nghỉ hưu mà thời gian đã đóng BHXH còn thiếu trên 10 năm nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đóng BHXHTN thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu theo quy định. Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 134/2015/NĐ-CP[8]: Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXHTN lựa chọn. (d) Nhà nước hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP[8] quy định: Người tham gia BHXHTN được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn.
Bằng 30% đối với người thuộc hộ nghèo; 25% đối với thuộc hộ cận nghèo; 10% đối với các đối tượng khác. Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXHTN không quá 10 năm (120 tháng).3 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện (a) Chế độ hưu trí - Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng Theo quy định Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP[8] người tham gia BHXHTN đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng như sau: 11 Bảng 2.1 Điều kiện hƣởng chế độ hƣu trí hàng tháng Chế độ hƣu trí hàng tháng Tuổi đời Điều kiện hƣởng Nam: 60 tuổi Có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên kể cả thời gian đóng Nữ: 55 tuổi BHXHBB được bảo lưu (nếu có) Người tham gia BHXHTN mà trước đó đã có tổng thời Nam:55 tuổi trở lên gian đóng BHXHBB đủ 20 năm trở lên (trong đó có đủ Nữ: 50 tuổi trở lên 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực khu vực hệ số 0,7 trở lên). Người tham gia BHXHTN mà trước đó đã có tổng thời Nam:50 tuổi trở lên gian đóng BHXHBB đủ 20 năm trở lên (trong đó có đủ Nữ: 51 tuổi trở lên 15 năm làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực khu vực hệ số 0,7 trở lên). (Nguồn: Nghị định số 134/2015/NĐ-CP) - Mức lương hưu hàng tháng Theo Điều 74 của Luật BHXH năm 2014[7] quy định: Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.