Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Điều dưỡng của tác giả Dương Thùy Trang (Trường Đại học Thăng Long, 2022) tập trung vào vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi của lứa tuổi vị thành niên trong môi trường học đường. Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ sự phát triển kinh tế - xã hội và tác động của thời đại công nghệ 4.0, kéo theo những chuyển biến phức tạp trong các mối quan hệ xã hội, gia đình và nhà trường. Lạm dụng mạng xã hội cùng với các yếu tố tâm lý xã hội gây căng thẳng có thể dẫn đến các tác động bất lợi đối với sức khỏe thể chất và tâm thần của học sinh. Ở lứa tuổi vị thành niên, những biến đổi mạnh mẽ về giải phẫu - sinh lý dậy thì đi kèm với nhu cầu khẳng định bản thân khiến trẻ dễ rơi vào các trạng thái khủng hoảng tâm lý, hành vi lệch chuẩn nếu thiếu sự quan tâm và định hướng đúng đắn từ gia đình, nhà trường.

Tại Việt Nam, sự chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền dẫn tới tình trạng thiếu hụt các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, đặc biệt tại các khu vực miền núi. Trường Trung học cơ sở (THCS) Bắc Lệnh là một trường nằm ở trung tâm thành phố Lào Cai với quy mô 11 lớp học và 430 học sinh. Dù cơ sở vật chất giảng dạy và phòng y tế học đường được quan tâm đầu tư, nhà trường tại thời điểm nghiên cứu vẫn chưa thực hiện cuộc khảo sát thực chứng nào về các vấn đề tâm lý của học sinh, công tác hỗ trợ tâm lý học đường chưa được triển khai đồng bộ, học sinh chưa có diễn đàn chính thức để giãi bày và tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn kịp thời.

Từ bối cảnh thực tiễn đó, khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả sự khó khăn về tâm lý, hành vi của học sinh trường Trung học cơ sở Bắc Lệnh, Lào Cai năm 2022.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến khó khăn về tâm lý, hành vi của những học sinh trên.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Học sinh đang theo học tại trường THCS Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai.
  • Phạm vi không gian: Trường THCS Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên khung lý thuyết về tâm sinh lý học lứa tuổi vị thành niên và tâm lý học y học, bao gồm các đặc điểm biến đổi giải phẫu - sinh lý dậy thì (hệ xương, hệ cơ, tim mạch, nội tiết sinh dục), sự phát triển cảm xúc, nhận thức, ý chí, nhân cách và các tương tác xã hội.

Về công cụ đo lường, tác giả sử dụng "Bộ câu hỏi về Điểm mạnh và khó khăn" (Strengths and Difficulties Questionnaire - SDQ) phiên bản tự đánh giá dành cho thanh thiếu niên từ 11 đến 16 tuổi. Đây là công cụ sàng lọc tâm lý được sửa đổi từ thang đo Rutter A (của Robert Goodman và cộng sự, 1998). Bộ công cụ gồm 25 câu hỏi chia thành 5 thang đo cấp độ (mỗi thang gồm 5 mục, thang điểm Likert 3 mức: 0 = Không đúng, 1 = Có thể đúng, 2 = Rất đúng):

  1. Hành vi có lợi cho xã hội (đo lường điểm mạnh).
  2. Tính hiếu động (khó khăn).
  3. Hội chứng cảm xúc (khó khăn).
  4. Vấn đề đạo đức (khó khăn).
  5. Vấn đề bạn bè / bình đẳng (khó khăn).

Tổng điểm khó khăn được tính bằng tổng của 4 thang đo khó khăn (bỏ qua thang điểm hành vi có lợi cho xã hội), dao động từ 0 đến 40 điểm (với điều kiện hoàn thành tối thiểu 12/20 câu hỏi). Thang phân loại nhu cầu can thiệp gồm 3 mức:

  • Nhu cầu thấp: 0 đến 15 điểm.
  • Nhu cầu bình thường: 16 đến 19 điểm.
  • Nhu cầu cao: 20 đến 40 điểm.

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo tiêu chuẩn lựa chọn (học sinh toàn trường, tự nguyện, có khả năng nhận thức và trả lời câu hỏi) và tiêu chuẩn loại trừ (học sinh chậm phát triển trí tuệ, khuyết tật nhận thức hoặc từ chối tham gia). Số lượng thực tế thu thập được là 300 học sinh đủ tiêu chuẩn trên tổng số 430 học sinh toàn trường.
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu: Dữ liệu được thu thập qua phiếu hỏi tự điền có cấu trúc tại trường học. Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm thống kê y học SPSS 20.0. Tác giả áp dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %) và thống kê suy luận để kiểm định mối liên quan giữa các biến số độc lập (tuổi, giới tính, khu vực cư trú, điều kiện kinh tế) với biến phụ thuộc (có hay không có khó khăn tâm lý, hành vi) thông qua tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR), khoảng tin cậy 95% (95% CI) và mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về sức khỏe tâm thần trẻ vị thành niên. Tác giả phân tích chi tiết sự phát triển sinh lý dậy thì (sự phát triển không đồng bộ giữa chiều cao, hệ cơ và hệ tuần hoàn gây cảm giác lóng ngóng, nhức đầu, mệt mỏi) và biến đổi thần kinh trung ương tác động trực tiếp đến sự bất ổn định cảm xúc. Về mặt tâm lý và nhân cách, chương 1 làm rõ các quá trình: tự nhận thức đối với bản thân, tự đánh giá bản thân, tự giáo dục, sự hình thành ý chí, hứng thú và hành vi nguy cơ (đua xe, quan hệ tình dục sớm, vi phạm pháp luật). Tác giả tổng quan bộ công cụ sàng lọc SDQ và tổng hợp các bằng chứng nghiên cứu dịch tễ học trong nước và quốc tế. Số liệu trích dẫn chỉ ra tỷ lệ mắc vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở trẻ em và vị thành niên Việt Nam dao động từ 8,0% đến 29,0% (khảo sát 10 tỉnh thành của UNICEF ghi nhận trung bình 12,0%, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu dịch vụ SKTT); tỷ lệ trầm cảm học sinh THCS trong nghiên cứu của Nguyen D. là 41,1%; thực trạng vị thành niên vi phạm pháp luật tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2009–2014 ghi nhận 330 vụ việc, tập trung chủ yếu vào trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng.

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày quy trình triển khai nghiên cứu thực địa. Tác giả công bố rõ ràng các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ, địa điểm và thời gian triển khai từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2022 tại trường THCS Bắc Lệnh. Bảng danh mục biến số nghiên cứu được xây dựng tường minh với 3 nhóm chính: thông tin chung của đối tượng (tuổi, giới tính, khối lớp, khu vực sống), thông tin gia đình (thứ bậc con cái, người sinh sống cùng, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp bố mẹ), và nhóm biến số đo lường tâm lý - hành vi theo chuẩn SDQ. Quy trình kiểm soát sai số được thiết lập thông qua việc tập huấn điều tra viên và giải thích cặn kẽ bảng hỏi cho học sinh. Các khía cạnh đạo đức nghiên cứu y sinh học được bảo đảm: nghiên cứu được Ban Giám hiệu nhà trường phê duyệt, học sinh tham gia hoàn toàn tự nguyện, thông tin cá nhân được mã hóa và bảo mật, đối tượng có quyền rút lui bất kỳ lúc nào.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực tế trên 300 học sinh thông qua 7 bảng số liệu và 6 biểu đồ:

  • Đặc điểm nhân khẩu: 51,7% nam (155 học sinh) và 48,3% nữ (145 học sinh); độ tuổi tập trung nhiều nhất ở 12 tuổi (31,7%), học sinh lớp 7 chiếm tỷ lệ cao nhất (31,0%); 97,3% sinh sống tại khu vực thành thị. 56,0% là con thứ nhất; 63,3% sống cùng cả bố và mẹ; 82,7% gia đình có mức kinh tế trung bình; 49,7% bố mẹ là công nhân viên chức. Về giao tiếp xã hội, 70,0% học sinh hòa đồng với bạn bè; 49,4% tham gia tích cực hoạt động tập thể.
  • Thực trạng khó khăn tâm lý, hành vi: Đánh giá nhu cầu chung cho thấy 57,0% học sinh có nhu cầu cao về hỗ trợ cảm xúc - hành vi; 32,3% nhu cầu bình thường và 10,7% nhu cầu thấp. Về điểm mạnh, 78,0% học sinh có điểm hành vi có lợi cho xã hội tốt. Về các thang đo khó khăn cụ thể: vấn đề bình đẳng/bạn bè ghi nhận 47,7% nhu cầu bình thường và 13,0% nhu cầu cao; vấn đề hiếu động ghi nhận 15,7% nhu cầu bình thường và 17,0% nhu cầu cao; hội chứng cảm xúc ghi nhận 5,3% nhu cầu cao; vấn đề đạo đức có 5,7% nhu cầu cao. Tổng số học sinh tự nhận thấy có khó khăn tâm lý, hành vi là 53,0% (159 học sinh), trong đó khó khăn dưới 1 tháng chiếm 61,0%. Về hậu quả, khó khăn ảnh hưởng tới học tập ở 13,6% học sinh và khiến trẻ buồn bã, tức giận ở mức 16,6%.
  • Các yếu tố liên quan: Phân tích đơn biến xác định tuổi và giới tính có liên quan có ý nghĩa thống kê với khó khăn tâm lý, hành vi. Nhóm học sinh trên 12 tuổi có nguy cơ gặp khó khăn cao hơn nhóm từ 12 tuổi trở xuống (OR = 1,881; 95% CI: 1,188–2,980; p = 0,007). Nhóm học sinh nam có nguy cơ gặp khó khăn cao hơn học sinh nữ (OR = 1,83; 95% CI: 1,15–2,89; p = 0,010). Yếu tố khu vực sinh sống (p = 0,863) và điều kiện kinh tế gia đình (p = 0,156) chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong mẫu nghiên cứu này.

Chương 4. Bàn luận

Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình dịch tễ học và tài liệu tâm lý học lứa tuổi:

  • Lý giải đặc điểm nhân khẩu và hoàn cảnh gia đình: Tỷ lệ con cả chiếm 56,0% tạo nên áp lực tâm lý trách nhiệm lớn hơn đối với gia đình. 3,3% trẻ sống cùng ông bà do bố mẹ ly thân/ly hôn là nhóm đối tượng có tổn thương tâm lý ngấm ngầm, dễ có phản ứng chống đối hoặc thu mình, tự cô lập. Sự bận rộn công việc của phụ huynh (công nhân viên chức, kinh doanh) làm giảm thời gian chia sẻ thực chất giữa cha mẹ và con cái.
  • Lý giải thực trạng khó khăn: Tỷ lệ 57,0% học sinh có nhu cầu cao phù hợp với các thực nghiệm chuẩn hóa thang SDQ quốc tế. Thang đo bạn bè/bình đẳng và hiếu động có tỷ lệ gặp khó khăn cao nhất phản ánh đúng đặc trưng học đường lứa tuổi 11–15, khi trẻ chịu áp lực từ sự so sánh của cha mẹ, sự phân biệt nhóm bạn, nghiện thiết bị điện tử, chơi game hoặc áp lực điểm số. Thời gian xuất hiện khó khăn chủ yếu dưới 1 tháng (61,0%) cho thấy tính chất bộc phát, phản ứng tức thời trước các biến cố học tập và gia đình.
  • Phân tích các mối liên quan: Học sinh trên 12 tuổi (lớp 8, lớp 9) gặp nhiều khó khăn hơn (OR = 1,881) do bước vào giai đoạn giữa vị thành niên với các xung đột nhận thức, áp lực thi cử và bắt đầu nảy sinh các mối quan hệ tình cảm lứa tuổi. Học sinh nam có tỷ lệ khó khăn cao hơn học sinh nữ (OR = 1,83) do chịu sức ép thể hiện sự nam tính, e ngại bộc lộ cảm xúc yếu đuối, dễ bị lôi kéo vào các hành vi nghịch ngợm, bốc đồng. Các yếu tố kinh tế và nơi cư trú chưa biểu hiện rõ ràng do tính chất thuần nhất của mẫu nghiên cứu (phần lớn tập trung tại đô thị Lào Cai và mức kinh tế trung bình).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp các dữ liệu định lượng quan trọng về thực trạng tâm lý, hành vi và các yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Bắc Lệnh qua các bảng thống kê sau:

Chỉ số nhân khẩu / tâm lý (n = 300) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính
- Nam 155 51,7%
- Nữ 145 48,3%
Nhóm tuổi
- 11 tuổi 62 20,7%
- 12 tuổi 95 31,7%
- 13 tuổi 63 21,0%
- 14 tuổi 78 26,0%
- 15 tuổi 2 0,7%
Đánh giá nhu cầu tâm lý, hành vi (SDQ)
- Nhu cầu thấp 32 10,7%
- Nhu cầu bình thường 97 32,3%
- Nhu cầu cao 171 57,0%
Tình trạng gặp khó khăn
- Không gặp khó khăn 141 47,0%
- Có gặp khó khăn (từ ít đến rất nhiều) 159 53,0%
Thời gian xuất hiện khó khăn (n = 159)
- Dưới 1 tháng 97 61,0%
- Từ 1 đến dưới 5 tháng 32 20,1%
- Từ 5 đến dưới 12 tháng 16 10,1%
- Trên 1 năm 14 8,8%
Yếu tố liên quan Có khó khăn n (%) Không khó khăn n (%) OR (95% CI) Giá trị p
Độ tuổi
- Nhóm tuổi > 12 88 (61,1%) 56 (38,9%) 1,881 (1,188 – 2,980) 0,007
- Nhóm tuổi $\le$ 12 71 (45,5%) 85 (54,5%) 1,00 (ĐC)
Giới tính
- Nam 84 (54,2%) 71 (45,8%) 1,83 (1,15 – 2,89) 0,010
- Nữ 57 (39,3%) 88 (60,7%) 1,00 (ĐC)
Khu vực sinh sống
- Nông thôn 4 (50,0%) 4 (50,0%) 0,88 (0,22 – 3,60) 0,863
- Thành thị 155 (53,1%) 137 (46,9%) 1,00 (ĐC)
Điều kiện kinh tế
- Khó khăn 8 (80,0%) 2 (20,0%) 3,68 (0,77 – 17,64) 0,156
- Trung bình, khá giả 151 (47,9%) 139 (52,1%) 1,00 (ĐC)

Về mặt đóng góp và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm đầu tiên về sức khỏe tâm thần và khó khăn hành vi của học sinh tại trường THCS Bắc Lệnh (Lào Cai) bằng bộ công cụ chuẩn hóa quốc tế SDQ, lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực địa tại địa phương miền núi phía Bắc.
  • Đề xuất giải pháp nhân sự và can thiệp y tế học đường: Nhà trường cần bố trí cán bộ chuyên trách về công tác xã hội hoặc nhân viên y tế trường học có nghiệp vụ tư vấn tâm lý. Nhân viên y tế cần chủ động tiếp cận, sàng lọc phát hiện sớm các khúc mắc của học sinh, tạo môi trường lắng nghe, đồng cảm; đặc biệt ưu tiên theo dõi sát sao nhóm đối tượng có nguy cơ cao đã được chứng minh qua số liệu là nhóm học sinh các lớp lớn (trên 12 tuổi) và nhóm học sinh nam.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa gia đình và nhà trường: Gia đình cần hạn chế việc so sánh trẻ, tạo điều kiện chia sẻ cảm xúc, không áp đặt thành tích học tập và phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm khi trẻ có dấu hiệu suy giảm kết quả học tập hoặc biến đổi tính khí (buồn bã, tức giận).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự bộc lộ một số hạn chế gắn liền với thiết kế và điều kiện thực địa:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một trường THCS duy nhất ở khu vực nội thành thành phố Lào Cai; cỡ mẫu 300 học sinh chưa đại diện được cho toàn bộ học sinh vị thành niên tại các khu vực huyện, vùng sâu vùng xa trên địa bàn tỉnh.
  • Sự phân bố mẫu chưa đồng đều ở một số biến số phân loại: số lượng học sinh sinh sống tại nông thôn chỉ có 8 em (2,7%) và học sinh thuộc hộ khó khăn chỉ có 10 em (3,3%), dẫn đến khoảng tin cậy của OR rất rộng khi phân tích thống kê và làm giảm độ mạnh của kiểm định đối với hai yếu tố này.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên hình thức tự đánh giá (self-report) của học sinh thông qua bảng hỏi, có thể chịu sai số do học sinh chưa hiểu cặn kẽ câu hỏi, tâm lý e ngại bộc lộ hành vi tiêu cực (như trộm cắp, nói dối, đánh nhau) hoặc khả năng tự nhận thức bản thân chưa toàn diện.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các trường THCS thuộc các huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Lào Cai để so sánh đối chiếu giữa các khu vực địa lý và nhóm văn hóa.
  • Áp dụng phương pháp đánh giá đa nguồn theo chuẩn SDQ đầy đủ: kết hợp bảng tự báo cáo của học sinh với bảng hỏi dành cho phụ huynh và bảng hỏi dành cho giáo viên chủ nhiệm nhằm tăng tính khách quan của dữ liệu.
  • Thiết kế các nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc (longitudinal study) để kiểm tra hiệu quả thực tế của mô hình phòng tư vấn tâm lý học đường đối với việc giảm thiểu tỷ lệ khó khăn hành vi ở học sinh.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo chuyên môn thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng, Y tế công cộng, Công tác xã hội và Tâm lý học đường khi thực hiện các khóa luận, đề án nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trẻ vị thành niên.
  • Phần phương pháp nghiên cứu (Chương 2) và bảng hỏi SDQ 25 câu phân định rõ 5 cấp độ cùng hướng dẫn tính điểm nhu cầu là mẫu biểu thực nghiệm chuẩn mực, có thể chuyển giao áp dụng trực tiếp cho các nghiên cứu sàng lọc tâm lý học đường tương tự.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu và nhân viên y tế các trường THCS (đặc biệt tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc) có căn cứ khoa học và số liệu thực chứng để xây dựng quy trình tư vấn tâm lý, thiết kế các hoạt động ngoại khóa nâng đỡ tâm lý và dự phòng hành vi lệch chuẩn cho học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ công cụ SDQ sử dụng trong nghiên cứu này đánh giá những khía cạnh cụ thể nào?
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi SDQ gồm 25 mục đo lường 5 khía cạnh (mỗi khía cạnh 5 câu, chấm từ 0 đến 2 điểm): Hành vi có lợi cho xã hội (đo điểm mạnh), Tính hiếu động, Hội chứng cảm xúc, Vấn đề đạo đức và Vấn đề bạn bè/bình đẳng (4 thang đo khó khăn). Tổng điểm khó khăn dao động từ 0 đến 40 điểm.

2. Tỷ lệ học sinh trường THCS Bắc Lệnh gặp khó khăn về tâm lý, hành vi là bao nhiêu?
Nghiên cứu ghi nhận 53,0% học sinh (159/300 em) tự nhận thấy có khó khăn tâm lý, hành vi ở các mức độ khác nhau: 42,4% khó khăn ít, 9,3% khá khó khăn và 1,3% rất nhiều khó khăn. Xét theo thang điểm nhu cầu hỗ trợ chung, 57,0% học sinh thuộc nhóm có nhu cầu cao.

3. Khó khăn tâm lý, hành vi của học sinh thể hiện rõ nét nhất ở những lĩnh vực nào?
Học sinh gặp khó khăn cao nhất ở hai lĩnh vực: Cấp độ bình đẳng/bạn bè (47,7% nhu cầu bình thường và 13,0% nhu cầu cao) và Cấp độ hiếu động (15,7% nhu cầu bình thường và 17,0% nhu cầu cao). Ngược lại, điểm mạnh của học sinh được thể hiện rất tốt ở Hành vi có lợi cho xã hội với 78,0% học sinh đạt mức tích cực.

4. Những yếu tố nhân khẩu nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với khó khăn tâm lý của học sinh?
Nghiên cứu chỉ ra độ tuổi và giới tính có mối liên quan có ý nghĩa thống kê: Học sinh trên 12 tuổi có nguy cơ gặp khó khăn cao gấp 1,881 lần so với học sinh từ 12 tuổi trở xuống (p = 0,007); học sinh nam có nguy cơ gặp khó khăn cao gấp 1,83 lần so với học sinh nữ (p = 0,010). Điều kiện kinh tế và nơi cư trú chưa cho thấy liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

5. Những khó khăn tâm lý, hành vi gây ra hậu quả trực tiếp gì cho học sinh được ghi nhận trong nghiên cứu?
Hậu quả chủ yếu được ghi nhận là: 16,6% học sinh bị khó khăn làm cho buồn bã, tức giận; 13,6% học sinh bị ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả học tập; và 27,0% học sinh chịu áp lực gây ảnh hưởng tới hoạt động vui chơi, giải trí hàng ngày.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của cử nhân điều dưỡng Dương Thùy Trang đã phản ánh thực trạng khó khăn về tâm lý, hành vi của học sinh trường THCS Bắc Lệnh (Lào Cai) năm 2022 thông qua bộ công cụ chuẩn hóa SDQ trên mẫu khảo sát 300 em. Kết quả chỉ ra có 53,0% học sinh gặp khó khăn tâm lý, hành vi và 57,0% có nhu cầu hỗ trợ ở mức cao, tập trung nhiều nhất vào vấn đề bạn bè và tính hiếu động. Phân tích dịch tễ học khẳng định nhóm học sinh trên 12 tuổi và học sinh nam là hai nhóm có nguy cơ gặp khó khăn cao hơn rõ rệt (p < 0,05). Công trình là căn cứ thực nghiệm quan trọng khẳng định tính cấp thiết của việc kiện toàn hệ thống nhân viên y tế học đường và cán bộ công tác xã hội chuyên trách tư vấn tâm lý trong trường học hiện nay.