Tổng quan nghiên cứu

Trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông, chuyên đề hàm số của chương trình Giải tích lớp 12 luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng với khoảng 10 đến 12 câu hỏi, chiếm từ 20% đến 25% tổng số điểm toàn bài. Mặc dù đây là nội dung kiến thức nền tảng, thực tiễn dạy học môn Toán tại nhiều trường trung học phổ thông miền núi cho thấy học sinh vẫn gặp rất nhiều rào cản nhận thức. Kết quả khảo sát ban đầu trên 70 học sinh khối 12 ghi nhận có tới hơn 80% học sinh vấp phải sai lầm khi giải quyết các dạng toán ứng dụng đạo hàm để khảo sát và vẽ đồ thị hàm số.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ bản chất các chướng ngại sư phạm của học sinh khi giải toán hàm số lớp 12, đồng thời xác định các nguyên nhân cốt lõi phát sinh từ phía người học và phương pháp tổ chức giảng dạy của giáo viên. Mục tiêu cụ thể là phân loại có hệ thống các dạng chướng ngại phổ biến, từ đó xây dựng và kiểm chứng các biện pháp sư phạm đồng bộ nhằm phòng tránh và khắc phục hiệu quả những khó khăn này.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ba dạng hàm số cơ bản gồm hàm đa thức bậc ba, hàm đa thức bậc bốn trùng phương và hàm phân thức bậc nhất trên bậc nhất thuộc Chương I sách giáo khoa Giải tích 12 chương trình chuẩn. Địa bàn khảo sát và thực nghiệm được tiến hành trong năm học 2020 - 2021 tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với sự tham gia của trường trung học phổ thông Trùng Khánh và trường trung học phổ thông Pò Tấu.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và Điều 24 Luật Giáo dục. Các giải pháp đề xuất hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh nắm vững kỹ năng giải toán từ mức dưới 40% lên trên 65%, góp phần chuyển đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang phát triển năng lực tư duy toán học tự chủ cho học sinh phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chướng ngại nhận thức của Gaston Bachelard công bố năm 1938 trong công trình Sự hình thành tinh thần khoa học. Tác giả khẳng định chướng ngại không phải là sự thiếu hụt kiến thức nhất thời hay khó khăn khách quan bên ngoài, mà tồn tại ngay trong bản thân tiến trình nhận thức của người học. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp thuyết chướng ngại thích nghi của Jean Piaget và lý thuyết Didactic toán do Guy Brousseau và Bouazzaoui phát triển. Theo góc nhìn Didactic toán, chướng ngại là một tri thức từng giúp học sinh giải quyết thành công vấn đề trong một phạm vi quen thuộc, nhưng tri thức đó lại dẫn đến sai lầm khi đối diện với bối cảnh mới đòi hỏi phải tái cấu trúc nhận thức.

Tại Việt Nam, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Giáo sư Nguyễn Bá Kim về việc phân loại chướng ngại thành hai dạng: chướng ngại không tránh được liên quan đến quy luật tâm lý phát triển cùng lịch sử hình thành khái niệm, và chướng ngại sư phạm tránh được nhờ sự điều chỉnh hợp lý của các tình huống dạy học. Bốn khái niệm khoa học giữ vai trò hạt nhân trong nghiên cứu gồm: chướng ngại sư phạm, năng lực chuyển đổi bài toán, sự huy động tri thức và hoạt động hóa người học. Luận văn quán triệt sâu sắc luận điểm nổi tiếng của A. A. Stolyar: "Dạy Toán là dạy hoạt động Toán học". Để đưa tri thức khoa học vào nhà trường, nghiên cứu phân tích tiến trình chuyển hóa sư phạm qua 3 mắt xích căn bản gồm thể chế tạo tri thức bác học, thể chế chuyển hóa chương trình sách giáo khoa và thể chế giảng dạy thực tế của người thầy trên lớp học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập thông qua quá trình điều tra thực chứng kết hợp khảo sát diện rộng và can thiệp thực nghiệm sư phạm. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 60 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Toán tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và 70 học sinh lớp 12 thuộc trường trung học phổ thông Trùng Khánh và trường trung học phổ thông Pò Tấu.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu định hướng kết hợp phân tầng mục tiêu, phản ánh chân thực đặc thù dạy và học môn Toán tại khu vực miền núi. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích đối chứng định tính và định lượng là nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học trong việc kiểm định giả thuyết sư phạm. Phương pháp này cho phép đo lường chính xác sự biến chuyển về tư duy toán học và kỹ năng giải toán của học sinh thông qua các chỉ số tần số và tỷ lệ phần trăm trước và sau tác động.

Tiến trình nghiên cứu diễn ra từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021. Tác giả đã thiết kế 4 giáo án thực nghiệm sư phạm và 1 đề kiểm tra chuẩn hóa bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT và Công văn số 3414/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tiết dạy thực nghiệm tại lớp 12B được đối sánh chặt chẽ với lớp đối chứng 12A6 nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có tới 100% trong tổng số 60 giáo viên được khảo sát hoàn toàn đồng ý rằng học sinh thường xuyên vấp phải chướng ngại liên quan đến việc hiểu đúng bản chất các khái niệm và mối quan hệ giữa các tri thức hàm số. Phần lớn học sinh gặp bế tắc khi giải quyết bài toán tìm số hạng lớn nhất của dãy số do không nhận thức được dãy số là hàm số có biến số rời rạc, hoặc quên mất điều kiện hàm số phải liên tục tại một điểm khi tính đạo hàm của hàm ghép.

Thứ hai, 100% giáo viên xác nhận học sinh thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ năng biến đổi giải tích nền tảng. Khi giải bài toán tìm tập xác định chứa tham số m hoặc khảo sát hàm số chứa dấu giá trị tuyệt đối, tỷ lệ học sinh phân chia đầy đủ các trường hợp biện luận ở lần kiểm tra đầu tiên chỉ đạt dưới 30%. Học sinh gặp trở ngại lớn trong việc nhận diện và vận dụng công thức đạo hàm của hàm hợp khi cơ số không nguyên.

Thứ ba, 100% giáo viên cùng hơn 85% học sinh khảo sát thừa nhận sự lúng túng khi khai thác ứng dụng của hàm số vào giải quyết bài toán thực tế. Cụ thể, khi xử lý bài toán tối ưu hình học tìm chiều dài ngắn nhất của cái thang tựa tường vượt qua vật cản cao 4 mét và cách tường 0,5 mét để đạt đáp số xấp xỉ 5,59 mét, đa số học sinh không thể chuyển đổi ngôn ngữ mô tả thực tiễn thành ngôn ngữ giải tích để thiết lập hàm mục tiêu.

Thứ tư, khảo sát ghi nhận 60,67% giáo viên, tương ứng 40 trên 60 thầy cô, có thói quen chủ động đặt học sinh đối diện với các tình huống chứa chướng ngại trong giờ học. Đáng chú ý, có 75%, tức 45 trên 60 giáo viên, đánh giá rằng tư duy toán học của học sinh tiến bộ vượt bậc sau khi được thử thách và tự mình vượt qua các rào cản đó.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên của các chướng ngại sư phạm kể trên xuất phát từ thói quen dạy học thiên về ghi nhớ máy móc các dạng toán và mẹo giải nhanh nhằm đối phó với các kỳ thi trắc nghiệm. Học sinh thường học thuộc thuật giải một cách rập khuôn mà không hiểu rõ điều kiện áp dụng định lý. Về phía giáo viên, khâu chuyển hóa sư phạm trong các giờ lên lớp đôi khi bị giản lược quá mức, thiếu vắng các pha tạo tình huống mâu thuẫn nhận thức để học sinh tự bộc lộ sai lầm.

Dữ liệu khảo sát của luận văn có thể được trình bày một cách tường minh thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ đồng thuận của 60 giáo viên đối với 3 nhóm chướng ngại cốt lõi, kết hợp cùng bảng thống kê phân phối điểm kiểm tra trước và sau can thiệp giữa hai lớp 12B và 12A6. Những phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu Didactic toán trên thế giới, khẳng định rằng sai lầm của người học không phải là sự thiếu hụt kiến thức ngẫu nhiên mà là biểu hiện của một quan niệm nhận thức chưa hoàn thiện.

So với các tài liệu nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chỉ dừng lại ở việc mô tả khó khăn chung chung, luận văn đã phân chia chướng ngại thành 4 bình diện kỹ năng cụ thể. Ý nghĩa quan trọng của kết quả này chỉ ra rằng giáo viên không nên che giấu hay né tránh sai lầm của học sinh. Thay vào đó, người dạy cần chủ động kiến tạo môi trường học tập giàu tính thử thách để học sinh tự mình nhận diện và vượt qua chướng ngại, từ đó phát triển bền vững năng lực tư duy độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, giáo viên chủ động thiết kế tình huống sư phạm tạo mâu thuẫn nhận thức trong 10 đến 15 phút đầu mỗi tiết dạy chuyên đề. Giáo viên cần đưa ra các bài toán chứa bẫy logic như hàm số gián đoạn tại điểm xét đạo hàm hoặc phương trình chứa tham số ở hệ số bậc cao. Biện pháp này giúp học sinh tự bộc lộ chướng ngại tiềm ẩn, hướng tới mục tiêu giảm 40% các lỗi sai khái niệm trong các bài kiểm tra của học kỳ 1 năm học 2021 - 2022.

Thứ hai, giáo viên tổ chức rèn luyện năng lực liên tưởng và huy động tri thức liên môn cho học sinh. Người dạy cần hướng dẫn học sinh lập bảng đối chiếu giữa hình học và giải tích, ứng dụng tính đơn điệu của hàm số để giải phương trình và hệ phương trình phức tạp. Mục tiêu đề ra là áp dụng phương pháp này trong 100% các tiết luyện tập, nâng tỷ lệ học sinh giải quyết thành công các bài toán vận dụng cao lên trên 70% sau 8 tuần rèn luyện liên tục.

Thứ ba, giáo viên bộ môn thực hiện phân rã bài toán phức hợp thành chuỗi hoạt động thành phần vừa sức. Cụ thể, khi hướng dẫn vẽ đồ thị hàm số chứa dấu giá trị tuyệt đối, giáo viên chia nhỏ quy trình thành các thao tác suy đồ thị đối xứng riêng biệt qua trục hoành hoặc trục tung. Hoạt động này cần duy trì đều đặn trong 4 chuyên đề trọng tâm của học kỳ 1, giúp điểm số trung bình của nhóm học sinh trung bình và yếu tăng từ 2 đến 3 điểm.

Thứ tư, tổ chuyên môn Toán phối hợp cùng nhà trường xây dựng ngân hàng tài liệu gồm 50 bài toán tối ưu hóa gắn liền với thực tiễn sản xuất và đời sống địa phương. Chương trình biên soạn hoàn thành trong thời gian 6 tháng, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng mô hình hóa toán học một cách vững chắc trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giáo viên môn Toán tại các trường trung học phổ thông: Tài liệu cung cấp trực tiếp 4 giáo án thực nghiệm được thiết kế chi tiết cùng hệ thống bài tập phân hóa theo chuẩn kiến thức. Giáo viên có thể ứng dụng ngay vào giảng dạy chuyên đề ứng dụng đạo hàm lớp 12 để chủ động phòng ngừa các bẫy tư duy cho học sinh.

Thứ hai, học sinh lớp 12 chuẩn bị tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông: Luận văn là cẩm nang hữu ích giúp học sinh tự nhận diện các chướng ngại điển hình về cực trị, tính đơn điệu, bảng biến thiên và đồ thị. Việc nắm vững các phân tích sai lầm trong tài liệu sẽ hỗ trợ học sinh tự tin nâng band điểm bài thi từ mức 6,0 lên trên 8,5 điểm.

Thứ ba, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán: Công trình là nguồn tham khảo học thuật giá trị về cách thức vận dụng lý thuyết Didactic toán và phương pháp luận Bachelard vào thực tiễn trường phổ thông. Quy trình xử lý dữ liệu khảo sát từ 60 giáo viên là hình mẫu thực tế cho các nghiên cứu luận văn thạc sĩ.

Thứ tư, cán bộ quản lý chuyên môn và chuyên viên phụ trách môn Toán tại các Sở Giáo dục và Đào tạo: Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn để xây dựng các chuyên đề tập huấn phương pháp giảng dạy thường niên cho hơn 300 giáo viên toán toàn tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa bàn khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Chướng ngại sư phạm khác gì so với khó khăn thông thường trong giải toán hàm số? Khó khăn thông thường chỉ xuất hiện do sự thiếu hụt kiến thức nhất thời và có thể khắc phục nhanh bằng cách bổ sung công thức. Ngược lại, chướng ngại sư phạm là tri thức đã được thiết lập vững chắc nhưng trở nên sai lầm trong bối cảnh mới. Dữ liệu khảo sát 60 giáo viên cho thấy 100% khẳng định học sinh chỉ vượt qua chướng ngại khi được tự mình phá vỡ quan niệm cũ thông qua các tình huống phản ví dụ do giáo viên tổ chức.

Tại sao học sinh lớp 12 thường xuyên mắc sai lầm ở bài toán tìm cực trị hàm số? Sai lầm phổ biến bắt nguồn từ việc học sinh chỉ nhớ máy móc điều kiện đạo hàm bằng 0 mà bỏ quên điều kiện đạo hàm phải đổi dấu khi đi qua điểm đó. Trong khảo sát 70 học sinh lớp 12, khoảng 65% học sinh chọn sai đáp án đối với các hàm số có đạo hàm triệt tiêu tại vô số điểm hoặc hàm số liên tục nhưng không có đạo hàm tại điểm cực trị.

Làm thế nào để học sinh khắc phục sự lúng túng khi vẽ đồ thị hàm số chứa dấu giá trị tuyệt đối? Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quy tắc phân rã đồ thị theo từng miền kết hợp phép lấy đối xứng qua trục tọa độ thay vì phá dấu giá trị tuyệt đối đại số. Kết quả sau 4 tiết dạy thực nghiệm chuyên sâu cho thấy tỷ lệ học sinh thực hiện chính xác phép biến đổi đồ thị để biện luận số nghiệm phương trình chứa tham số đã tăng thêm 28% so với phương pháp dạy học truyền thống.

Rào cản lớn nhất của học sinh khi giải bài toán tối ưu hóa ứng dụng thực tế là gì? Rào cản chính nằm ở năng lực chuyển dịch ngôn ngữ đời sống sang ngôn ngữ hàm số giải tích và kỹ năng lựa chọn biến số thích hợp. Điển hình ở bài toán tìm chiều dài tối thiểu của cái thang tựa tường đạt xấp xỉ 5,59 mét, có tới 80% học sinh không thể thiết lập hàm mục tiêu do thiếu kỹ năng liên kết tỷ lệ cạnh tam giác đồng dạng với định lý hình học cơ bản.

Biện pháp luyện tập hoạt động thành phần đem lại hiệu quả cụ thể ra sao cho người học? Biện pháp này chia nhỏ các nhiệm vụ phức tạp thành chuỗi thao tác đơn giản như tìm tập xác định, tính đạo hàm và lập bảng biến thiên riêng biệt. Đánh giá đối chứng trên hai lớp 12A6 và 12B chứng minh điểm số kiểm tra định kỳ của học sinh đã cải thiện vượt bậc từ mức trung bình 5,2 lên 7,6 điểm sau một học kỳ áp dụng liên tục.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Didactic toán học và nhận thức luận về chướng ngại sư phạm trong dạy học hàm số lớp 12.
  • Nhận diện và phân loại rõ ràng 3 nhóm chướng ngại cốt lõi của học sinh thông qua khảo sát thực chứng 60 giáo viên và 70 học sinh phổ thông.
  • Đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ tập trung vào hoạt động hóa người học và giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn nhận thức.
  • Khẳng định tính khả thi và hiệu quả vượt trội qua 4 giáo án thực nghiệm, nâng tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi môn Toán lên trên 30% so với lớp đối chứng.
  • Đóng góp nguồn học liệu thực tiễn chất lượng cao, phục vụ thiết thực cho công tác bồi dưỡng giáo viên dạy môn Toán tại các trường trung học phổ thông miền núi.

Kế hoạch hành động tiếp theo là hoàn thiện bộ tài liệu chuyên đề trước học kỳ 2 năm học 2021 - 2022 và mở rộng địa bàn thử nghiệm tại 5 trường trung học phổ thông lân cận trong vòng 12 tháng tới. Các thầy cô giáo và chuyên gia sư phạm hãy áp dụng ngay các biện pháp giải quyết chướng ngại sư phạm của luận văn nhằm tạo bước đột phá trong chất lượng dạy học môn Toán.