Tổng quan nghiên cứu

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 và Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đặt trọng tâm vào việc phát triển phẩm chất, năng lực người học thay vì truyền thụ kiến thức một chiều. Trong chương trình môn Toán trung học phổ thông, chủ đề Đại số tổ hợp và Xác suất giữ vai trò ứng dụng quan trọng nhưng thường bị xem là trừu tượng, khó tiếp thu. Kết quả khảo sát năm 2019 chỉ ra rằng có tới 85% học sinh chưa từng giải bài toán tổ hợp xuất phát từ bối cảnh thực tế, dù 65% các em rất hứng thú khi bài học gắn liền với đời sống thường nhật.

Nhằm kết nối lý thuyết hàn lâm với thực tiễn, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán (mã số 8.11) của tác giả Chu Văn Hồng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Danh Nam tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, đã nghiên cứu đề tài dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất dựa vào bối cảnh thực. Mục tiêu cụ thể là xây dựng quy trình thiết kế và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm giúp học sinh kiến tạo tri thức từ các tình huống thực tế đời sống.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm sư phạm trong năm học 2018 - 2019 tại Trường Trung học phổ thông Lục Ngạn số 4, tỉnh Bắc Giang. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc gia tăng 26.8% tỷ lệ điểm khá giỏi, nâng cao năng lực mô hình hóa toán học và giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo tiền đề vững chắc cho việc triển khai dạy học tích hợp và giáo dục STEM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên hai trụ cột lý luận sư phạm hiện đại. Thứ nhất là lý thuyết Giáo dục dựa vào bối cảnh thực (Context-based learning) bắt nguồn từ tư tưởng kiến tạo xã hội của John Dewey và Lev Vygotsky, được John Gilbert phát triển thành mô hình học tập kết nối môi trường văn hóa xã hội với kiến thức trường học. Tiếp cận này từng khẳng định giá trị qua Dự án Leerpakket Ontwikkeling Natuurkunde tại Hà Lan vào những năm 1970 và mô hình Salters tại Anh từ năm 1983.

Thứ hai là lý thuyết Giáo dục toán học gắn với thực tiễn (Realistic Mathematics Education - RME) do Hans Freudenthal khởi xướng tại Hà Lan từ năm 1968, hoàn thiện qua dự án Wiskobas (1971 - 1977) và dự án Hewet (1981 - 1985). Lý thuyết RME vận hành trên 5 nguyên tắc: thực tiễn, cấp độ, xoắn bện, tương tác và dẫn đường. Hai khái niệm nòng cốt gồm vấn đề ngữ cảnh (context problem) và bài tập ngữ cảnh (context task) giúp học sinh toán học hóa tình huống đời sống. Ngoài ra, tác giả vận dụng chu trình 4 pha bồi dưỡng giáo viên: Bắt đầu, Chuẩn bị, Dạy học và Phản ánh.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại Trường Trung học phổ thông Lục Ngạn số 4 trong năm học 2018 - 2019.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài khảo sát thực trạng trên 100 học sinh khối 11 và toàn bộ giáo viên tổ Toán. Trong khâu thực nghiệm sư phạm, tác giả chọn mẫu phân cụm gồm 2 lớp 11 có học lực ban đầu tương đương: lớp thực nghiệm gồm 41 học sinh và lớp đối chứng gồm 41 học sinh.

Về phương pháp phân tích, nghiên cứu kết hợp phiếu hỏi, quan sát và thống kê toán học. Lý do lựa chọn thống kê toán học (kiểm định t-test, phân tích tần số, tần suất, phương sai điểm số) là nhằm định lượng chính xác hiệu quả can thiệp sư phạm, loại bỏ cảm tính và kiểm chứng độ tin cậy của giả thuyết khoa học với mức ý nghĩa p nhỏ hơn 0.05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thực trạng dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất bộc lộ khoảng cách lớn với đời sống. Khảo sát giáo viên cho thấy 85% giáo viên chỉ biết một ít và 15% chưa biết gì về dạy học bối cảnh thực; 90% tiếp cận tự phát qua internet mà chưa qua các đợt tập huấn bài bản. Về phía người học, 85% học sinh chưa từng giải bài toán thực tiễn về tổ hợp, trong khi 65% chỉ thụ động nghe giảng và ghi chép.

Thứ hai, rào cản sư phạm tập trung ở khâu thiết kế khi 81% giáo viên gặp khó khăn khi soạn giáo án bối cảnh thực, 79% lúng túng trong kiểm tra đánh giá và 65% trở ngại khi chọn ví dụ thực tế. Đáng chú ý, 80% học sinh đề xuất cần bổ sung bài tập thực tiễn vào sách giáo khoa.

Thứ ba, thực nghiệm sư phạm khẳng định hiệu quả vượt bậc của các bài toán thực tế như vòng quay may mắn hội trại, xác suất bán tivi 5 tháng đầu năm và bài toán cắm hoa ngày 20 tháng 10. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi ở lớp thực nghiệm đạt 68.3%, vượt xa mức 41.5% của lớp đối chứng (tăng 26.8%). Điểm trung bình của lớp thực nghiệm đạt 7.42 điểm, cao hơn 1.27 điểm so với lớp đối chứng (6.15 điểm), đồng thời phương sai thu hẹp chứng minh khả năng tiếp thu bài đồng đều.

Thảo luận kết quả

Sự tiến bộ này xuất phát từ việc bối cảnh thực kích thích động cơ giải quyết vấn đề cá nhân theo phương châm "giảng ít, học nhiều". Kết quả tương thích với các nghiên cứu của Freudenthal tại Hà Lan, nơi 75% trường học sử dụng tài liệu RME đạt hiệu quả tư duy vượt trội.

Dữ liệu định lượng được trực quan hóa qua biểu đồ hình quạt thể hiện 65% học sinh rất hứng thú và biểu đồ đường tích lũy tần suất điểm số. Đồ thị của lớp thực nghiệm lệch hẳn về phía điểm 7 đến 10, minh chứng bối cảnh thực tế giúp học sinh chuyển hóa tri thức trừu tượng thành năng lực hành động cụ thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, xây dựng ngân hàng bài tập ngữ cảnh hóa. Tổ chuyên môn Toán tại các trường trung học phổ thông chủ trì biên soạn tối thiểu 30 bài toán bối cảnh thực tiễn địa phương (như thu hoạch vải thiều Lục Ngạn, dự toán tài chính gia đình hay xác suất hội chợ) trong học kỳ 1 năm học, bảo đảm 100% học sinh được tiếp cận tình huống thực tế trong mỗi bài học.

Hai là, chuẩn hóa quy trình thiết kế bài dạy 4 bước. Giáo viên bộ môn áp dụng nhất quán quy trình gồm: Xác định mục tiêu, Chuẩn bị bối cảnh, Tổ chức hoạt động và Tổng kết sơ đồ hóa kiến thức. Mục tiêu là chuyển đổi 100% tiết dạy lý thuyết tổ hợp từ thuyết giảng thụ động sang hoạt động trải nghiệm trong 3 tháng đầu kỳ học.

Ba là, tổ chức tập huấn chuyên sâu cho giáo viên. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường đại học sư phạm tổ chức bồi dưỡng định kỳ 2 lần mỗi năm học, nhằm giải quyết khó khăn trong soạn giảng của 81% giáo viên và nâng cao kỹ năng thiết kế công cụ đánh giá năng lực.

Bốn là, đổi mới kiểm tra đánh giá gắn với hoạt động STEM. Ban giám hiệu chỉ đạo nâng tỷ lệ câu hỏi thực tế trong đề kiểm tra định kỳ lên mức từ 20% đến 25%, đồng thời tổ chức định kỳ 1 ngày hội trải nghiệm toán học hoặc câu lạc bộ STEM mỗi học kỳ để tạo môi trường thực hành sáng tạo cho học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là giáo viên dạy Toán tại các trường trung học phổ thông. Giáo viên có thể khai thác trực tiếp hệ thống bài tập thực tế, giáo án mẫu và 3 biện pháp sư phạm để ứng dụng ngay vào chương trình Toán lớp 10 và lớp 11, giúp tiết kiệm ít nhất 50% thời gian biên soạn học liệu.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn Toán. Luận văn cung cấp căn cứ khoa học và số liệu thực chứng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới sinh hoạt chuyên môn và chuẩn hóa cấu trúc đề kiểm tra đánh giá năng lực cho 100% giáo viên trong đơn vị.

Nhóm thứ ba là sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Toán. Đây là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về việc vận dụng lý thuyết quốc tế RME vào giáo dục Việt Nam, cung cấp phương pháp luận và kỹ thuật xử lý thống kê thực nghiệm sư phạm đáng tin cậy.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo. Kết quả khảo sát với 80% học sinh mong muốn bổ sung bài toán thực tế là luận cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác biên soạn học liệu đổi mới giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Dưới đây là 5 câu hỏi thường gặp về dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất dựa vào bối cảnh thực:

Dạy học dựa vào bối cảnh thực khác gì so với phương pháp dạy học truyền thống? Dạy học truyền thống chú trọng truyền thụ kiến thức với 65% học sinh thụ động nghe giảng. Ngược lại, dạy học bối cảnh thực khởi đầu từ vấn đề đời sống để học sinh tự kiến tạo tri thức, nâng mức độ hứng thú học tập từ 10% lên 65%.

Tại sao chủ đề Tổ hợp - Xác suất lại đặc biệt phù hợp với bối cảnh thực? Các quy tắc đếm và biến cố ngẫu nhiên đều khởi nguồn từ đời sống như trò chơi vòng quay số hay thống kê doanh số tivi 5 tháng đầu năm. Bối cảnh thực cụ thể hóa lý thuyết trừu tượng, khắc phục tình trạng 85% học sinh chưa từng liên hệ toán học với thực tế.

Giáo viên cần làm gì để vượt qua khó khăn khi thiết kế giáo án bối cảnh thực? Khảo sát cho thấy 81% giáo viên lúng túng khi soạn giáo án. Giải pháp là giáo viên cần sinh hoạt tổ chuyên môn để cùng xây dựng ngân hàng bài tập chung, bám sát quy trình 4 bước và tham gia tập huấn chuyên môn định kỳ 2 lần mỗi năm học.

Học sinh trung bình hoặc yếu có theo kịp phương pháp dạy học này không? Hoàn toàn theo kịp, bởi lý thuyết RME tuân thủ nguyên tắc cấp độ, dẫn dắt từ trực quan đời thường (như chọn trang phục đi học) đến công thức toán học. Thực nghiệm chứng minh điểm trung bình của lớp thực nghiệm tăng 1.27 điểm so với lớp đối chứng.

Cần những điều kiện gì để triển khai thành công mô hình này tại các trường phổ thông? Nhà trường cần đồng bộ cơ sở vật chất phục vụ giáo dục STEM, nâng tỷ lệ câu hỏi thực tế trong đề kiểm tra lên mức từ 20% đến 25% và tổ chức ít nhất 1 hoạt động ngoại khóa trải nghiệm toán học mỗi học kỳ.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Chu Văn Hồng mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Vận dụng thành công 5 nguyên tắc của lý thuyết RME và phương pháp dạy học dựa vào bối cảnh thực vào môn Toán trung học phổ thông.
  • Phản ánh trung thực thực trạng: Khảo sát 100 học sinh và tập thể giáo viên tại Bắc Giang, chỉ rõ 85% học sinh thiếu kỹ năng giải toán thực tế và 81% giáo viên gặp trở ngại khi thiết kế giáo án.
  • Đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm khả thi: Thiết kế tiến trình dạy học 4 bước gắn với các tình huống sinh động, nâng tỷ lệ điểm khá giỏi của lớp thực nghiệm lên 68.3%, vượt 26.8% so với lớp đối chứng.
  • Xác lập lộ trình nhân rộng giai đoạn 2019 - 2025: Đề xuất kế hoạch tập huấn giáo viên định kỳ 2 lần mỗi năm và xây dựng ngân hàng 30 bài toán ngữ cảnh địa phương cho mỗi học kỳ.
  • Thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy: Góp phần hiện thực hóa phương châm "học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn", đưa môn Toán trở nên gần gũi và hấp dẫn đối với mọi học sinh.