ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn vết mổ là biến chứng thường gặp, là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại mọi cơ sở y tế. Nhiễm khuẩn vết mổ ảnh hưởng nhiều đến tinh thần người bệnh, kéo dài thời gian nằm viện, khả năng phục hồi kém và làm gia tăng viện phí. Tại Hoa Kỳ, nhiễm khuẩn vết mổ đứng thứ hai sau nhiễm khuẩn tiết niệu. Tỉ lệ người bệnh được phẫu thuật mắc nhiễm khuẩn vết mổ thay đổi từ 2-15% tùy theo loại phẫu thuật.
Ở một số khu vực châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, cũng như tại một số nước châu Phi, nhiễm khuẩn vết mổ gặp ở 8,8-24% người bệnh sau phẫu thuật [2]. Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn vết mổ xảy ra ở 5 - 10% trong số khoảng 2 triệu người bệnh được phẫu thuật hàng năm, tăng tỉ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị. Tại Hoa Kỳ, số ngày nằm viện gia tăng trung bình do nhiễm khuẩn vết mổ là 7,4 ngày, chi phí phát sinh do nhiễm khuẩn vết mổ hàng năm khoảng 130 triệu USD. Nhiễm khuẩn vết mổ chiếm 89% nguyên nhân tử vong ở người bệnh mắc nhiễm khuẩn vết mổ sâu.
Với một số loại phẫu thuật đặc biệt như phẫu thuật cấy ghép, nhiễm khuẩn vết mổ có chi phí cao nhất so với các biến chứng ngoại khoa nguy hiểm khác và làm tăng thời gian nằm viện trung bình hơn 30 ngày. Một vài nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy nhiễm khuẩn vết mổ làm tăng gấp 2 lần thời gian nằm viện và chi phí điều trị trực tiếp [2]. Tụ cầu trắng hay còn gọi là tụ cầu da (Staphylococcus epidermidis) là cầu khuẩn Gram dương không có men coagulase, thuộc nhóm Staphylococus. Tụ cầu trắng là thành viên trong vi hệ trên da và niêm mạc người khỏe mạnh.
Trong một thời gian rất dài, các nhà vi khuẩn học đã xem vi khuẩn này không có tính gây bệnh. Tuy nhiên, ngày nay, người ta đã biết rõ rằng chúng là tác nhân gây bệnh cơ hội quan trọng, thường gặp nhất là nhiễm khuẩn ngoài da và trong các trường hợp bệnh nhân có can thiệp các thủ thuật như đặt nội khí quản, xông dạ dày, bệnh nhân cấy ghép tạng, sử dụng van tim nhân tạo, phẫu thuật. xương,… Nếu không có hướng điều trị thích hợp, ở trường hợp nặng, bệnh nhân có thể bị nhiễm khuẩn huyết và tử vong [9], [15], [25], [29], [44]. Vệ sinh vùng da có chỉ định mổ trước phẫu thuật nếu không kiểm soát tốt, sẽ là điều kiện thuận lợi cho hệ vi khuẩn thường trú trên da, đặc biệt là S.
epidermidis có cơ hội xâm nhập vào vết mổ, gây biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ nghiêm trọng, ảnh hướng xấu tới tính mạng và tăng kinh phí điều trị cho bệnh nhân. Giai đoạn làm sạch da vùng phẫu thuật cực kì quan trọng, đặt biệt ở những vị trí như rốn và bẹn - đây là những vùng da cần được chú ý làm sạch trước khi tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân. Staphylococci coagulase âm tính, trong đó có S. epidermidis thường liên quan đến việc đề kháng kháng sinh [25], [26], [27], [46], [58].
Hơn nữa, phân lập S. epidermidis từ các trường hợp nhiễm khuẩn lâm sàng thường kháng nhiều hơn so với chủng không gây bệnh [18], [22]. Theo đánh giá rủi ro từ tháng 11 năm 2018 của Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh châu âu (EDCD) nhấn mạnh rằng một số chủng vi khuẩn S. epidermidis đa kháng thuốc đặc biệt liên quan đến chăm sóc sức khỏe đã được xác định trên toàn cầu [30].
Một số đợt bùng phát S. epidermidis đa kháng thuốc ở châu Âu đã được ghi nhận [27]. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về việc nhiễm S. epidesmidis ở bệnh nhân trước phẫu thuật.
Chính vì những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nhiễm tụ cầu da ở bệnh nhân trước phẫu thuật” nhằm cung cấp thêm thông tin về tỉ lệ S. epidesmidis ở vùng da rốn và bẹn của bệnh nhân ngay trước phẫu thuật, góp phần giúp lâm sàng có biện pháp phòng ngừa, hạn chế việc lây nhiễm S. epidermidis ở bệnh nhân trước phẫu thuật cũng như góp phần hạn chế sự đề kháng kháng sinh. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể: 1.
Xác định tỉ lệ Staphylococcus epidermidis phân lập được trên vùng da rốn và bẹn ở bệnh nhân ngay trước phẫu thuật. Xác định tỉ lệ Staphylococcus epidermidis đề kháng một số kháng sinh thường dùng. So sánh tình trạng đề kháng kháng sinh giữa MRSE và MSSE. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về Staphylococcci Cầu khuẩn bao gồm cả giống hiếu khí (Micrococci, Planococci và Deinococci), giống kị khí tuỳ nghi (Staphylococci, Stomacocci, Streptococci, Leuconostos, Pediococci, Aerococci và Gemella) và giống kị khí (Peptococci, Peptostreptococci, Ruminococci, Coprococci và Sarcina). Họ Micrococcaceae gồm bốn giống: Micrococci, Stomacocci, Planococci và Staphylococci. Những đặc tính khác nhau của cầu khuẩn Gram (+) gồm: sự sắp xếp của tế bào, hiếu khí bắt buộc, kị khí tuỳ nghi hay vi hiếu khí, kị kí bắt buộc, phản ứng catalase, sự hiện diện cytochromes , sản phẩm lên men từ quá trình kị khí, peptidoglycan, axít teichoic trong thành tế bào vi khuẩn [54]. Phân loại của vi khuẩn Staphylococcus như sau: • Giới: Prokaryote • Bộ: Firmicute • Lớp: Firmibacteria • Họ: Micrococceae • Giống: Staphylococci • Loài: Staphylococcus Staphyloccoci là loại cầu khuẩn Gram dương, xếp thành từng đám giống hình chùm nho.
Mọc dễ dàng trên nhiều môi trường, có khả năng lên men nhiều loại đường và tiết sắc tố thay đổi từ trắng đến vàng đậm. Một số vi khuẩn thường trú trên da và niêm mạc của người. Một số khác có thể gây bệnh với nhiều hình thức nhiễm khuẩn có mủ khác nhau, cả nhiễm khuẩn huyết dẫn đến tử vong [4]. Có thể chia Staphyloccoci thành 3 nhóm: • Nhóm cho phản ứng coagulase dương tính.
• Nhóm cho phản ứng coagulase âm tính và nhạy với nobovicin. • Nhóm cho phản ứng coagulase âm tính và kháng với nobovicin. Hiện nay có 32 loài Staphylococcus (bảng 1. Hàm lượng G (guanin) + C (cytosine) trong DNA loài Staphylococcus từ 30 - 39 mol%.
Một vài loài khác hiện nay đang được nghiên cứu. Các loài Staphylococcus TT Loài TT Loài 1 S. vitulus Các loài Staphylococcus là hiếu khí hoặc kị khí tuỳ nghi và có cả quá trình hô hấp và lên men. Staphylococci thu nhận năng lượng thông qua sự chuyển hoá glycosis, hexose monophosphate và chu trình axít tricarboxylic.
Staphylococci có catalase dương và sử dụng nhiều loại carbonhydrat khác nhau. Thành tế bào chứa peptidoglycan và axít teichoic. Phân tử peptidoglycan là một chuỗi glycan sắp xếp luân phiên xen kẻ giữa N - acetyl glucosamine và axít N - acetylmuramic qua cầu nối β-1,4 glycosidic. Chiều dài trung bình chuỗi khác nhau phụ thuộc loài vi khuẩn từ 10 đến 65 đơn vị disaccharide.
Nhóm carboxyl của axít N - acetylmuramic được nối bởi liên kết amide với đầu tận cùng N của L - alanine trong phân tử L - alanin - γ - D - isoglutaminyl - L - lysyl - D - alanine. Những peptide cận kề thì nối liền với nhau bởi cầu nối pentaglycine mở rộng từ nhóm carboxyl của D - alanine này với nhóm ε - amino của lysine của peptide tiếp theo. Peptidoglycan hình thành một mạng lưới vững chắc bao quanh tế bào. Staphylococci đề kháng với muramidase lysozyme nhưng nhạy cảm với lytic endopeptidase lysostaphin do nó tấn công vào liên kết glycine - glycine có trong cầu nối peptide của peptidoglycan.
Axít teichoic là polymer mang điện tích, trong đó sự lặp lại hoặc là ribitol hoặc là glycerol được nối thông qua nhóm phosphodiester. Axít teichoic tìm thấy giữa thành tế bào và màng cytoplasmic. Axít teichoic có chức năng duy trì môi trường ion của màng cytoplasmid và cũng góp phần vào duy trì điện tích bề mặt tế bào Staphylococcus. Năm 1871, Von Recklinghausen, nhà khoa học người Đức lần đầu tiên theo dõi cầu khuẩn trong thận từ một bệnh nhân chết do nhiễm khuẩn huyết.
Năm 1880, Alexxander Ogston (bác sĩ phẩu thuật người Scốt-len) và Louis Pasteur đã chứng minh áp xe viêm mủ là do cầu khuẩn gây ra. Ogston đã theo dõi hai loại cầu khuẩn: một loại tạo thành chuỗi gọi là Streptococcus và một loại đứng thành chùm gọi là Staphylococcus. Ogston tin tưởng vào sự khám phá của mình và đặt tên cho cầu khuẩn đứng chùm là Staphylococcus. Ogston được công nhận là người khám phá và đặt tên cho tụ cầu – Staphylococcus vào năm 1882.
Năm 1884, Rosenbach là người phân lớp Staphylococci dựa trên cơ sở tên của nhà khoa học Ogston và đặt tên cho cầu khuẩn tạo khuẩn lạc màu vàng là Staphylococcus pyrogen aureus [54]. Về lịch sử, việc phân loại Staphylococci cũng đã tranh luận , bởi vì bất kì hệ thống phân loại nào cũng dựa vào tuỳ hứng cá nhân mỗi nhà khoa học và việc phân loại vẫn tiếp tục sẽ xảy ra khi có những kỹ thuật, những thông tin tốt hơn mới hơn. Phần lớn các loài Staphylococcus cư trú phổ biến ở da và màng nhầy. Một vài loài tìm thấy một số vị trí cố định như loài S.
apcapitis chỉ tìm thấy vùng đầu và vùng trán. Các loài Staphylococcus tìm thấy ở người bao gồm: S. Staphylococci cư trú trên da người chiếm tỉ lệ 65 - 90% các chủng phân lập được. Trong các labo lâm sàng, Staphylococci được chẩn đoán khác nhau dựa vào việc tạo ra enzyme coagulase.
Hai dạng coagulase tìm thấy: một loại ở dạng tự do và một loại ở dạng đính kết trong tế bào. Hai loại này có hoạt tính miễn dịch và hoạt động khác nhau. Loại coagulase dạng tự do là một protein trong tự nhiên và các loại kháng nguyên được xác định. Staphylococci có coagulase dương tính có khả năng làm cho huyết thanh tạo thành dạng đông tụ sợi tơ huyết.
Enzyme này được tạo ra bởi các chủng có tính độc cao, tạo rào cản fibrin gây ra tổn thương cấp cục bộ. Tuy nhiên rào cản fibrin cũng chưa được làm rõ một cách hoàn toàn với lý do là các chủng Staphylococci coagulase âm tính vẫn có tính chất gây bệnh. Như vậy sự đông vón máu trong cơ thể có liên quan đến sự tương tác của nhiều thành phần. Sự đông vón hình thành do sợi tơ huyết trong huyết tương ở dưới dạng fibrinogen hoà tan, được chuyển sang dạng không hoà tan gọi là fibrin.
Hoạt động của coagulase là chuyển fibrinogen thành fibrin. Một trong những lý do mà trong chẩn đoán người ta thường dùng thử nghiệm coagulase dương tính để xác định Staphylococci là do nó dễ thực hiện và đáng tin cậy. Tế bào vi khuẩn nghi ngờ được trộn với huyết tương thỏ hay huyết tương người (có thêm citrat, oxalate hoặc axít ethylenediaminetetraacetic) trên ống nghiệm hay trên lam kính , được ủ ở 37 oC và đọc kết quả lúc 1 giờ và 3 giờ. Trước đây kết quả dương tính được xem như ở bất cứ độ đông nào.