CHƯƠNG 1 Chương đầu tiền trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát, cấu trúc luận văn. Những nội dung này sẽ giúp tạo cơ sở cho phần tiếp theo sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài. Luan van 6 CHƯƠNG 2. Cơ sở lý thuyết về sự gắn kết của người lao động trong tổ chức 2.
Khái niệm sự gắn kết công việc Sự gắn kết là ý định gắn kết lâu dài với tổ chức. Bởi sự gắn kết của mỗi cá nhân không chỉ đơn giản là vấn đề của cá nhân mà đó là một mắt xích trong chuỗi làm việc tận tâm cống hiến nhằm đạt mục tiêu tổ chức đề ra. Đến nay, có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa sự gắn kết của người lao động với tổ chức. Trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực, cho đến nay có nhiều định nghĩa về sự gắn kết của người lao động.
Kahn (1990) là người tiên phong nghiên cứu về sự gắn kết với công việc, theo đó người lao động khi gắn kết công việc thì họ sẽ dành hết cả tâm trí, kiến thức và cả về mặt thể chất để hoàn thành công việc được giao. Tuy nhiên định nghĩa này quá rộng, có thể nhầm lẫn với những nhân tố khác như hành vi tổ chức, gắn kết với tổ chức hay hài lòng/không hài lòng trong công việc. Allen và Meyer (1990) cho rằng sự gắn kết công việc là một trạng thái tâm lý ràng buộc giữa cá nhân và tổ chức lại với nhau, nó có liên hệ then chốt đến quyết định có tiếp tục là thành viên của tổ chức mà cá nhân đang làm việc hay không. Northcraff and Neale (1996) thì cho rằng sự gắn kết thể hiện lòng trung thành và niềm tin của người lao động vào các giá trị của tổ chức đặt ra.
Theo Zangaro (2001), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa và cam kết của nhân viên về trách nhiệm trong tương lai đối với tổ chức. Cohen (2007) cho rằng sự gắn kết với tổ chức chính là lòng trung thành của nhân viên, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì mục tiêu, giá trị của tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Luan van 7 Theo Macey và Schneider (2008) cho rằng sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng làm việc tích cực vì tổ chức, cảm thấy tự hào là một thành viên của tổ chức và có sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức. Như vậy, sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, với nghề nghiệp; đó là lòng trung thành và sự nhiệt tình làm việc của nhân viên đối với tổ chức; đó là sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức, luôn đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích của bản thân mình.
Những cá nhân có mức độ gắn kết với tổ chức càng cao sẽ càng hài lòng với công việc của họ, sẽ ít nghĩ đến việc rời bỏ và gắn kết với tổ chức khác. Các thành phần của sự gắn kết Sự gắn kết với tổ chức đã được định nghĩa và được đo lường bằng nhiều thang đo khác nhau. Mowday và cộng sự (1979), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự đồng thuận: mục tiêu cá nhân trùng với mục tiêu tổ chức, có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu và giá trị của tổ chức; Lòng trung thành: mong muốn một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổ chức; Sự lôi cuốn: bị lôi cuốn vào các hoạt động của tổ chức và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức. Angle và Perry (1981), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi hai thành phần: Gắn kết giá trị: sự gắn kết để phục vụ cho mục tiêu của tổ chức; Gắn kết duy trì: sự cam kết để duy trì vai trò thành viên của họ trong tổ chức.
O’Reilly và cộng sự (1986), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự tuân thủ: sự lôi cuốn vì những phần thưởng đặc biệt; Sự đồng thuận: sự gắn kết vì mong muốn hội nhập với tổ chức; Sự tiếp thu: sự lôi cuốn do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức. Luan van 8 Meyer và Allen (1991) đề xuất ba thành phần gắn kết với tổ chức: Gắn kết vì tình cảm: đề cập đến sự gắn kết tình cảm, sự gắn kết chặt chẽ và dồn hết tâm trí vào trong tổ chức của nhân viên; Gắn kết do bắt buộc: gắn kết do người nhân viên nhận thấy chi phí phải trả cao (chi phí cơ hội) khi phải rời bỏ tổ chức; Gắn kết vì quy chuẩn: phản ánh gắn kết dựa trên nghĩa vụ của nhân viên đối với tổ chức. Jaros và cộng sự (1993), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự duy trì: là mức độ mà một cá nhân cảm thấy họ phải gắn kết với tổ chức vì họ sẽ mất nhiều hơn so với có nếu họ rời khỏi tổ chức; Yêu mến: là mức độ mà một cá nhân gắn kết về mặt tâm lý thông qua những cảm giác như lòng trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, hài lòng với tổ chức, nhiệt tình vì tổ chức và cảm thấy mình thuộc về tổ chức; Đạo đức: là mức độ mà một cá nhân gắn kết về mặt tâm lý với tổ chức thông qua mục tiêu, giá trị và sứ mệnh của tổ chức. Phân loại mức độ gắn kết với công việc của người lao động Theo tổ chức tư vấn Gallup (2004), liên quan đến sự gắn kết với công việc, họ chia người lao động thành 3 nhóm: - Nhóm người lao động gắn kết với công việc: Đây là những người có tinh thần xây dựng.
Họ muốn biết kết quả mong đợi trong vai trò của họ để họ có thể đạt được và gặt hái kết quả vượt trên cả sự mong đợi đó. Họ quan tâm một cách tự nhiên đến Công ty và vai trò của họ ở Công ty. Hiệu quả làm việc của họ luôn ở mức cao, làm việc với sự đam mê. Và họ muốn sử dụng tài năng và điểm mạnh của mình vào công việc mỗi ngày.
Họ hướng đến sự đổi mới và giúp cho tổ chức của họ phát triển. - Nhóm người lao động không gắn kết với công việc: Là những người có xu hướng tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể hơn là những mục tiêu và kết quả mong đợi trong vai trò của họ. Họ muốn được chỉ bảo, hướng dẫn cụ thể những việc cần phải làm, và tập trung vào hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể, chứ không phải việc gặt Luan van 9 hái được kết quả mong muốn. Những người lao động không gắn kết với tổ chức có xu hướng cảm thấy sự đóng góp của mình bị bỏ qua và tiềm năng của mình không được biết đến, bởi vì họ không có mối quan hệ tốt với quản lý và đồng nghiệp của mình.
- Nhóm thứ ba là những người lao động chủ động không gắn kết với công việc: Đó là những người “ly khai”. Họ hầu như nhất quyết chống đối lại mọi thứ. Họ không chỉ không cảm thấy hạnh phúc tại nơi làm việc, mà còn luôn thể hiện thái độ không hạnh phúc của mình. Mỗi ngày, nhóm người này đều tìm cách ngầm phá hoại những thành công của những đồng nghiệp gắn kết với công việc.
Các lý thuyết liên quan đến sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức 2. Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Maslow (1943) cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Vì vậy, để nâng cao sự gắn kết của người lao động, nhà quản trị cần tìm hiểu nhu cầu của người lao động và tìm cách thỏa mãn các nhu cầu đó. Nhu cầu của họ được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản của con người nói chung và của người lao động nói riêng.
Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này thì họ sẽ không thể tồn tại. Chính vì nhu cầu cơ bản này, con người mới đấu tranh để sinh tồn, mới cố gắng hết mình để làm việc với mong muốn được tồn tại trong cuộc sống này. Nhu cầu an toàn: khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, họ sẽ có nhu cầu cao hơn.
Đó là nhu cầu được ổn định, được an toàn, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình. Nhu cầu an toàn này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Luan van 10 Nhu cầu xã hội hay nói cách khác là nhu cầu giao tiếp: là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó. Con người là tế bào, là thành viên của xã hội nên họ cần được chấp nhận, cần sự quan tâm, cần sự chăm sóc, cần sự hợp tác, cần sự giao lưu với những người xung quanh.
Nhu cầu được tôn trọng: khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu xã hội thì họ muốn được người khác công nhận và tôn trọng bản thân cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Nhu cầu tự thể hiện: là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu muốn chứng tỏ năng lực của bản thân mình. Như vậy, nhu cầu của con người là vô hạn bởi khi một nhu cầu được thỏa mãn, con người lại khát khao nhu cầu cao hơn.
Vì thế để người lao động gắn kết với tổ chức, nhà quản trị cần tìm hiểu xem người lao động đó đang ở đâu trong hệ thống nhu cầu này và hướng sự gắn kết ấy vào các nhu cầu có thứ bậc cao hơn.1: Mô hình thuyết nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow,1943) 2. Thuyết bản chất con người của Gregor (1956) Luan van 11 Theo Gregor (1956), con người có hai bản chất riêng biệt đó là bản chất X và bản chất Y.