Phần mở đầu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Phân tích thực trạng và kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị đề xuất 7 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2.TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Khái niệm, vai trò và mục đích của báo cáo tài chính 2. Khái niệm báo cáo tài chính Theo VAS 21 - Báo cáo tài chính phản ánh một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. BCTC cung cấp thôn tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp phục vụ cho nhà quản trị và các đối tƣợng bên ngoài sử dụng đƣa ra các quyết định kinh tế.
Theo IAS 1 – BCTC thể hiện tình hình tài chính và hoạt động tài chính, hiệu suất tài chính và dòng tiền của một thực thể. BCTC cung cấp đầy đủ các thông tin về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, các khoản đong góp cho chủ sở hữu, dòng tiền. Mục đích của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán trong một kỳ kế toán, phản ánh tổng quát tình hình tài sản, nguồn vốn cũng nhƣ tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Nhƣ vậy mục đích của báo cáo tài chính là: - Tổng hợp và trình bày một cách khái quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh trong một kỳ kế toán.
Cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán cho tƣơng lai. Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tƣ vào doanh nghiệp của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ, các chủ nợ hiện tại và tƣơng lai của doanh nghiệp. + Thông tin tình hình tài chính doanh nghiệp: Tình hình tài chính doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng của các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, của cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng thích ứng cho phù hợp với môi trƣờng kinh 8 doanh. Nhờ thông tin về các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và năng lực doanh nghiệp trong quá khứ đã tác động đến nguồn lực kinh tế này mà có thể dự đoán nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể tạo ra các khoản tiền và tƣơng đƣơng tiền trong tƣơng lai.
+ Thông tin về cơ cấu tài chính: Có tác dụng lớn dự đoán nhu cầu đi vay, phƣơng thức phân phối lợi nhuận, tiền lƣu chuyển cũng là mối quan tâm của doanh nghiệp và cũng là thông tin cần thiết để dự đoán khả năng huy động của nguồn tài chính của doanh nghiệp. + Thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là thông tin về tính sinh lời, thông tin về tình hình biến động sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho đối tƣợng sử dụng đánh giá những thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng. + Thông tin về sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp: Những thông tin này trên báo cáo tài chính rất hữu ích trong việc đánh giá các hoạt động đầu tƣ, tài trợ và kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Vai trò của Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tƣợng bên ngoài doanh nghiệp nhƣ các cơ quan quản lý Nhà nƣớc, các nhà đầu tƣ hiện tại và đầu tƣ tiềm tàng, kiểm toán viên độc lập và các đối tƣợng khác liên quan.
Nhờ các thông tin này mà các đối tƣợng sử dụng có thể đánh giá chính xác hơn về năng lực của doanh nghiệp: - Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Báo cáo tài chính cung cấp các chỉ tiêu kinh tế dƣới dạng tổng hợp sau một kỳ hoạt động, giúp cho họ trong việc phân tích đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, xác định nguyên nhân tồn tại và những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp. Từ đó đề ra các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp với sự phát triển của mình trong tƣơng lai. - Đối với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nƣớc: Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của mình mà từng cơ quan kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, 9 kiểm tra tình hình thực hiện các chính sách, chế độ quản lý – tài chính của doanh nghiệp nhƣ: + Cơ quan thuế: Kiểm tra tình hình thực hiện và chấp hành các loại thuế, xác định số thuế phải nộp, đã nộp, số thuế đƣợc khấu trừ, miễn giảm của doanh nghiệp. + Cơ quan tài chính: Kiểm tra đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nƣớc, kiểm tra việc chấp hành các chính sách quản lý nói chung và chính sách quản lý vốn nói riêng.
- Đối với đối tƣợng sử dụng khác nhƣ: + Chủ đầu tƣ: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về những khả năng hoặc những rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp có liên quan tới việc đầu tƣ của họ, từ đó đƣa ra quyết định tiếp tục hay ngừng đầu tƣ vào thời điểm nào, đối với lĩnh vực nào. + Các chủ nợ: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó chủ nợ đƣa ra quyết định tiếp tục hay ngừng việc cho vay đối với các doanh nghiệp. + Các khách hàng: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin mà từ đó họ có thể phân tích đƣợc khả năng cung cấp của doanh nghiệp, từ đó đƣa ra quyết định tiếp tục hay ngừng lại mua bán với doanh nghiệp. Ngoài ra, các thông tin trên báo cáo còn có tác dụng củng cố niềm tin và sức mạnh cho các công nhân viên của doanh nghiệp để họ nhiệt tình, hăng say trong lao động.
Các giả thiết và nguyên tắc kế toán chi phối đến việc lập báo cáo tài chính 2. Các giả thuyết kế toán Theo Libby & cs (2003), giả thuyết hay định đề kế toán đƣợc xây dựng dựa trên môi trƣờng kinh tế mà trong đó kế toán đƣợc thực hiện. Đó chính là những giả thuyết nền tảng tạo nên những “kim chỉ nam” liên quan đến việc trình bày các báo cáo tài chính. Ngƣời ta thƣờng nói đến ba định đề hay ba giả thuyết của khoa học và thực tiễn kế toán.
Giả thuyết thực thể kinh doanh. Theo định đề này phải kế toán các hoạt động của doanh nghiệp, của tổ chức tách rời khỏi các hoạt động của chủ sở hữu doanh nghiệp hay tổ chức và độc lập 10 khỏi hoạt động của tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác. Ví dụ, khi chủ sở hữu mua một chiếc xe hơi cho sử dụng mang tính chất cá nhân anh ta thì không đƣợc kế toán vào tài sản của doanh nghiệp. Giả thuyết thƣớc đo tiền tệ Định đề này cho rằng kế toán sử dụng trƣớc hết thƣớc đo tiền tệ quốc gia để thu thập và trình bày thông tin trong các báo cáo tài chính.
Nhƣ vậy, kế toán ở Việt Nam thì trƣớc hết phải ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính bằng đơn vị tiền tệ là đồng Việt Nam. Tiền tệ là thƣớc đo giá trị chung của mọi loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ làm đơn vị ghi chép, phản ánh và trình bày các báo cáo tài chính. Với tiền đề này giúp cho kế toán có thể xác định đƣợc giá trị của tất cả mọi loại tài sản, các khoản vay nợ và vốn chủ sở hữu cũng nhƣ mọi loại chi phí và doanh thu, thu nhập phát sinh trong hoạt động của các đơn vị vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận. Chỉ khi chấp nhận tiền đề này thì kế toán mới có thể thực hiện cộng dồn giá trị tài sản của một đơn vị và cung cấp cho ngƣời sử dụng những thông tin tổng hợp về tình hình hoạt động của đơn vị.
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng để phục vụ cho quản lý đơn vị, các nhà quản lý không chỉ cần những thông tin tổng hợp mà còn sử dụng các thông tin chi tiết, do vậy trong thực tiễn kế toán ngƣời ta cũng sử dụng cả các loại thƣớc đo hiện vật và thƣớc đo thời gian để phản ánh các hoạt động của đơn vị. Thƣớc đo tiền tệ chính là tiền đề để kế toán thực hiện đƣợc nguyên tắc cơ sở dồn tích. Giả thuyết kỳ kế toán. Trên thực tế, quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp hay các hoạt động trong một đơn vị nói chung diễn ra liên tục và trong nhiều trƣờng hợp chu kỳ kinh doanh thƣờng không trùng với năm tài chính.
Tuy nhiên, trên quan điểm quản trị doanh nghiệp, các nhà quản lý lại thƣờng xuyên có nhu cầu thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để kịp thời ra các quyết định phù hợp mà không chờ đến khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh mới cần thông tin. Do vậy kế toán phân cắt quá trình kinh doanh thành những khoảng thời gian bằng nhau để lập các báo cáo truyền đạt thông tin cần thiết cho ban lãnh đạo. Thông thƣờng kế toán lập báo cáo cho kỳ một tháng, một quí hoặc một năm. Mục đích kế toán phân chia thành các kỳ 11 bằng nhau là để đảm bảo yêu cầu tính so sánh đƣợc của các thông tin kế toán trình bày trong các báo cáo.
Nhƣ vậy kỳ kế toán xuất phát từ chính nhu cầu về thông tin của các nhà quản lý. Hơn nữa nó cũng đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tƣợng sử dụng thông tin khác, chẳng hạn các cổ đông, các chủ nợ, các cơ quan thuế, các cơ quan chức năng cũng cần có thông tin định kỳ về hoạt động của đơn vị. Nguyên tắc kế toán Theo Libby & cs (2003), nguyên tắc kế toán là những quy ƣớc, chỉ dẫn, hƣớng dẫn xuyên suốt trong quá trình thực hiện các công việc kế toán đƣợc nhiều ngƣời công nhận ở một thời điểm. Nó xuất phát từ sự nhất trí rộng rãi của nhiều ngƣời am hiểu về lý thuyết cũng nhƣ thực hành kế toán ở một thời điểm nào đó.