Chương 1 cũng nêu rõ khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng và kết cấu đề tài. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn là một thuật ngữ tài chính phản ánh tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu mà DN sử dụng để mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và duy trì hoạt động kinh doanh. Có rất nhiều định nghĩa về cấu trúc vốn như sau: Theo Lưu Thị Hương (2012) “ Theo cách chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn của chủ. Nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Vốn của chủ bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn”. Theo Ngô Kim Phượng, Lê Thị Thanh Hà, Lê Mạnh Hưng, Lê Hoàng Vinh (2013) “Phân tích cấu trúc vốn theo cách tiếp cận từ bảng cân đối kế toán của DN, cấu trúc vốn của DN được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần, bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu”. Theo Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Phan Thị Bích Nguyệt, Nguyễn Thị Liên Hoa, Nguyễn Thị Uyên Uyên (2013) “Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của DN”.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2014) định nghĩa “Cấu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động sản xuất –kinh doanh”. Theo Ross, Westerfieldand Jaffe (2002) “ Cấu trúc vốn của một DN là việc kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN”. Theo Macguigan, James R, Kretlow, William J và Moyer, Charles R (2006) “ Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần 10 ưu đãi, vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Tại cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tổng giá trị doanh nghiệp là lớn nhất”., Westerfield, R,W& Jordan, B, D (2012) “ Cấu trúc vốn là sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu mà một DN sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của DN đó”. Chính sách đòn bẩy trong cấu trúc vốn do Ban Giám đốc thực hiện, ngoài việc chịu ảnh hưởng của chi phí sử dụng vốn bình quân, còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: quy mô, chi trả cổ tức, doanh thu, tài sản, tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận, lợi ích về thuế (lá chắn thuế), mục tiêu của đòn bẩy, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh và tình hình quản trị công ty (Ross, Westerfield, Jaffe & Jordan-2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính không giống nhau. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào loại hình công ty hoặc các lĩnh vực kinh doanh mà công ty hoạt động (Santosa & Puspitasari-2019).
Cấu trúc vốn của một DN thường bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn vay. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn của doanh nghiệp đó và được sở hữu bởi các cổ đông. Vốn chủ sở hữu gồm vốn góp từ các hoạt động đầu tư hoặc liên kết và lợi nhuận giữ lại. Vốn vay là số tiền vay từ các tổ chức tài chính, từ các nguồn bên ngoài hay chính từ các cá nhân thuộc ban lãnh đạo công ty để phục vụ mục đích kinh doanh.
Trong đó, việc DN phát hành trái phiếu dài hạn được xem là loại vốn vay dài hạn an toàn nhất, vì thời gian trả nợ khá dài để giúp DN sử dụng nguồn vốn hiệu quả và không chịu áp lực cao trong quá trình thanh toán nợ. Ngoài vốn vay và VCSH, DN còn có một hình thức huy động vốn khác là tín dụng thương mại. Đây là khoản DN chấp nhận mua chịu từ nhà cung cấp hay khoản ứng trước từ khách hàng mà DN tạm thời chiếm dụng. Tín dụng thương mai gắn với một lượng hàng hóa cụ thể, một phương thức thanh toán cụ thể nên nó sẽ chịu tác động của chính sách tín dụng bên khách hàng mà DN được hưởng.
Tuy nhiên, khó khăn đó không ảnh hưởng nhiều đến DN, do khoản tín dụng thương mại này có thời gian ngắn hạn, DN biết cách quản lý hiệu quả thì nó sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn cho DN rất hiệu quả. Tại hình thức này, DN bán hàng hóa trước khi thanh toán tiền cho đối tác, điều 11 này giúp DN tăng hệ số thu nhập trên vốn cổ phần. Ngoài ra, vốn tín dụng thuê mua cũng là một phương thức giúp cho các DN thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tín dụng thuê mua gồm hai hình thức chủ yếu là: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.
Đối với 24 doanh nghiệp thực phẩm-đồ uống mà luận văn chọn lựa để nghiên cứu, nợ ngắn hạn chiếm 60.67% trong tổng nợ vay. Do đó, luận văn sử dụng khái niệm cấu trúc vốn theo Nguyễn Minh Kiều (2014) và Firer và các cộng sự (2012), tuy nhiên có điều chỉnh như sau “ Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) mà một doanh nghiệp hoạch định để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Với khái niệm này, các nguồn vốn tài trợ cho 24 DN thực phẩm-đồ uống được phân thành hai loại là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. ➢ Đối với nợ phải trả: là khoản tín dụng mà DN cam kết thanh toán lại cho các chủ nợ gốc và các khoản chi phí phát sinh kèm theo thời hạn quy định.
Thông thường, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn (Flannery-1986 và Diamond & He - 2014). o Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ có thời hạn thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (Barclay & Smith-1995). Nợ ngắn hạn của DN phản ánh số nợ ngắn hạn chưa đến ngày trả hoặc đã quá hạn trả vì nợ quá hạn phản ánh khả năng thanh toán cũng như uy tín của DN. Đối với DN, các khoản nợ ngắn hạn này được trang trải từ tiền bán hàng và tiền thu hồi từ các khoản đầu tư tài chính đến hạn.
DN cần có phương pháp phân loại nợ hợp lý để minh bạch việc đánh giá tính chất của từng khoản nợ, từ đó sắp xếp thời gian và nguồn trả nợ phù hợp, đôi khi ưu tiên cho những khoản nợ mang tính chất cấp thiết như: trả tiền lương cho người lao động, nộp thuế vào Ngân sách nhà nước, trả lãi vay cho các tổ chức tín dụng (Lê Hoàng Vinh-2015). Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 thì nợ ngắn hạn được trình bày trên bảng cân đối kế toán bao gồm các khoản phải trả người bán ngắn hạn, người mua trả tiền trước ngắn hạn, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động, 12 chi phí phải trả ngắn hạn, phải trả ngắn hạn khác, vay ngắn hạn, quỹ khen thưởng phúc lợi. o Nợ dài hạn: là khoản nợ mà DN có trách nhiệm thanh toán trong thời gian trả nợ trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh (Scherr & Hulburt -2001). Khoản nợ này dùng để đầu tư tài sản cố định và vốn lưu động thường xuyên cần thiết.
DN thường dùng nguồn vốn này cho mục đích đầu tư vào xây dựng cơ bản, đầu tư cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, đầu tư dài hạn cho cá nhân cũng như DN (Lê Hoàng Vinh-2015). Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21, nợ dài hạn được trình bày trên bảng cân đối kế toán bao gồm phải trả dài hạn khác, vay dài hạn, dự phòng phải trả dài hạn. ➢ Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: doanh nghiệp không phải chịu áp lực lớn về thanh toán, vì người chủ sở hữu rất kỳ vọng vào lợi ích mang lại từ hiệu quả hoạt động cuối cùng của DN. Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết và thông qua đó DN không có nghĩa vụ trả nợ hay cam kết thanh toán cho phần vốn góp này (Trần Ngọc Thơ và các cộng sự-2013).
Xét về khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác thuộc VCSH, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Về nguyên tắc, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế doanh nghiệp phải trả, và làm tăng giá trị của DN lên.
Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sỡ hữu (lãi suất vay ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư). Như vậy, tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng vốn và vì thế tăng lợi nhuận, tăng giá trị của công ty. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu còn được gọi là tỷ số đòn bẩy. Tuy nhiên DN không thể tăng nợ lên mức quá cao so với chủ sỡ hữu.
Khi đó công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh và dẫn đến những rủi ro cho DN. Tỷ lệ nợ 13 cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Khi tỷ lệ nợ tăng, DN phải đối mặt với nguy cơ phá sản do gánh nặng nợ quá cao. Do đó cấu trúc vốn chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu vốn của một doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn DN bao gồm cơ cấu các nguồn tài trợ bên trong và bên ngoài được sử dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh được luận giải trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc vốn trên khía cạnh hiệu quả hoạt động.