Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu 6 Giới thiệu đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài, đưa ra các câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trình bày lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh. Tóm lược các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, chương này xây dựng mô hình nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu, đề xuất các giả thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả các biến trong mô hình, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thiết hồi quy mô hình nghiên cứu, tiến hành các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp. Thảo luận kết quả nghiên cứu. Từ mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và chiều hướng tác động. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Luận văn đề xuất các hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu đối với các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước nhằm góp phần để gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTM và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương này, tác giả giới thiệu cơ sở lý thuyết nợ xấu và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Đồng thời, chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam để làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở chương sau. Một số khái niệm 2. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Sự ra đời và phát triển của NHTM gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường trong thời đại toàn cầu hóa, NHTM đã biến đổi nhanh chóng từ những tổ chức kinh doanh giản đơn, sơ khai ban đầu nay thành những NHTM hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia. Lý thuyết trung gian tài chính của Merton (1985) đề cập đến vai trò tổ chức tài chính trung gian, làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư trong nền kinh tế. Nói cách khác thì NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, huy động vốn từ các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế, sau đó thực hiện cho vay hoặc đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp nhiều dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Vai trò là trung gian tài chính, NHTM thực hiện chức năng chuyển các khoản tiết kiệm thành các khoản tín dụng cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Đồng thời, NHTM là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường trái phiếu do chính quyền phát hành để tạo nguồn đầu tư cho các dự án công cộng. Vai trò thanh toán, NHTM thực hiện việc thanh toán tiền cho các bên mua bán hàng hóa và dịch vụ qua việc phát hành và thanh toán séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử. Hiệu quả Farrell (1957) cho rằng hiệu quả nhằm đánh giá khả năng một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra với chi phí đầu vào cho trước. Theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh: thứ nhất là khả năng kiểm soát khả năng 8 sinh lời hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác, thứ hai là khả năng kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào để tạo ra một đơn vị đầu ra.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Khi đánh giá hiệu quả HĐKD của ngân hàng, có thể dựa vào hai chỉ tiêu đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. Hiệu quả tuyệt đối: được đo lường bằng kết quả kinh doanh trừ đi chi phí bỏ ra để đạt được kết quả. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, khối lượng, lợi nhuận đạt được trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêu này khó có thể so sánh được với các doanh nghiệp có thể cùng quy mô với chiến lược kinh doanh theo hướng dài hạn, chưa thể hiện tuyệt đối trình độ sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ so sánh hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức.
Hiệu quả tương đối: đo lường dựa vào tỷ lệ so sánh giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào. Hiệu quả hoạt động kinh doanh tương đối được xác định như sau: Efficiency = output/ input hoặc Efficiency = input/ output. Cách đánh giá này rất thuận tiện khi so sánh giữa các tổ chức có quy mô, phạm vi không gian và thời gian khác nhau. Rose (2002) cho rằng, việc đánh giá HQHĐKD của ngân hàng cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết đánh giá HQHĐKD của doanh nghiệp và xem xét thêm đến tính chất đặc thù của NHTM.
Theo nghĩa hẹp, quan điểm về HQHĐKD của ngân hàng chính là khả năng tạo ra lợi nhuận, đồng thời vẫn đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng. Theo nghĩa rộng HQHĐKD không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà lợi nhuận đạt được từ cấu trúc tài sản nợ và tài sản có hợp lý và xu hướng tăng trưởng lợi nhuận ổn định. Các nguồn lực như: lao động, cơ sở vật chất, nguồn tài chính cho các hoạt động chính: nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư là căn cứ để xác định mức độ hiệu quả và yếu tố tác động đến HQHĐKD của ngân hàng. Trong các nghiên cứu về HQHĐKD ngân hàng, một số tác giả theo cách tiếp cận sản xuất với quan điểm ngân hàng như là đơn vị sản xuất (Benston, 1965; Shaffnit và cộng sự, 1997), một số tác giả theo cách tiếp cận trung gian ngân hàng như các trung gian tài chính (Sealey và Lindley, 1977; Maudos và Pastor, 2003; Casu và cộng sự, 2003), và một số khác theo cách tiếp cận hiện đại cho rằng ngân hàng đóng cả hai vai trò (Denizer và cộng sự, 2000; Athanassopoulos và Giokas, 2000).
9 Cách tiếp cận sản xuất (Benston, 1965) cho rằng các ngân hàng cũng được xem như là các nhà cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Đầu vào bao gồm các yếu tố có trạng thái vật lý (lao động, vật liệu, không gian hoặc các thông tin hệ thống,. ) hoặc các chi phí liên quan. Đầu ra theo cách tiếp cận này thể hiện cho các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng và được đo lường bởi số lượng, loại giao dịch, số lượng văn bản xử lý hoặc các dịch vụ cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong trường hợp không có số liệu lưu lượng giao dịch chi tiết, chúng được thay thế bằng các dữ liệu về số lượng các tài khoản tiền gửi và cho vay như là một thay thế cho các mức độ dịch vụ được cung cấp. Cách tiếp cận này đã chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu hiệu quả của các ngân hàng cụ thể. Cách tiếp cận trung gian (Sealey và Lindley, 1977): Các lý thuyết kinh tế vĩ mô truyền thống cho rằng ngân hàng và công ty chỉ khác nhau ở đặc điểm hoạt động. Các NHTM được xem như trung gian chuyển vốn giữa người tiết kiệm và đầu tư nên NHTM sản xuất dịch vụ trung gian tài chính thông qua việc huy động vốn từ nền kinh tế và đầu tư vào các tài sản sinh lãi như các khoản vay, chứng khoán và các khoản đầu tư khác.
Cách tiếp cận này bao gồm cả chi phí hoạt động và lãi suất là yếu tố đầu vào, trong khi các khoản vay và tài sản lớn khác được tính là kết quả đầu ra. Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về phương pháp này trong việc xác định tiền gửi được coi là đầu vào hay đầu ra. Mester (1987) cho rằng, đầu ra trong hoạt động trung gian tài chính của ngân hàng là tài sản của các ngân hàng, trong khi các khoản tiền gửi, vốn, lao động và được xem như là đầu vào. Khoản mục quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng là thu nhập lãi.
Do đó, khả năng phát triển tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng. Nếu vốn cho vay của ngân hàng được xem như là một sản phẩm thì giá sản phẩm là lãi suất cho vay. Ngoài ra, nguồn vốn đi vay của ngân hàng là các khoản tiền gửi của các chủ sở hữu vốn. Do đó, tiền gửi có thể được xem như là đầu vào để tạo ra các khoản vay như một sản phẩm trong giai đoạn sản xuất.
Cách tiếp cận hiện đại (Frexias, 2009) cải tiến hơn hai phương pháp trên khi kết hợp một số hoạt động cụ thể của ngân hàng vào các lý thuyết cổ điển. Nghiên cứu về việc xác định các đầu ra trong hoạt động của NHTM đã hình thành nên một số phương pháp tiếp cận hiện đại như: tiếp cận theo tài sản, tiếp cận theo chi phí sử dụng, tiếp cận theo giá trị gia tăng, tiếp cận theo phương diện hoạt động. 10 Tiếp cận theo tài sản (Seaỉy và Lindỉey, 1977) tập trung hoàn toàn vào vai trò trung gian tài chính của NHTM giữa người gửi tiền và người sử dụng tài sản cuối cùng của ngân hàng. Tiền gửi và các khoản nợ khác, cùng với nguồn lực thực tế (lao động, vốn.
) được xác định là yếu tố đầu vào, trong khi các thiết lập đầu ra chỉ bao gồm các tài sản của ngân hàng như cho vay, cụ thể là các khoản cho vay. Tiếp cận theo chi phí sử dụng (Hancock, 1985) xác định sản phẩm tài chính là đầu vào hay đầu ra dựa trên cơ sở mức độ đóng góp của vào doanh thu ròng của ngân hàng. Nếu lợi nhuận tài chính trên một tài sản lớn hơn chi phí cơ hội của vốn, hoặc nếu các chi phí tài chính của các khoản nợ phải trả ít hơn chi phí cơ hội thì được coi là kết quả đầu ra; ngược lại là yếu tố đầu vào.