đặt vấn đề khác nhau nhưng tất cả dòng lý thuyết đều có một điểm chung là hành vi của các doanh nghiệp cũ có ảnh hưởng đến gia nhập ngành. Mặt khác, các cơ chế tác động khác nhau nhưng cũng ảnh hưởng thông qua các đặc điểm của ngành. Chính vì thế, nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố đặc điểm của ngành có tác động (cả khuyến khích lẫn hạn chế) đến gia nhập ngành mà bỏ qua tác động của các hành vi doanh nghiệp bởi vì việc phát triển hướng nghiên cứu theo chiến lược phần nhiều phụ thuộc vào dữ liệu cấp độ vi mô. Một động cơ khác để nghiên cứu thực hiện theo mục tiêu này là vì các yếu tố tác động lên gia nhập ngành trong các nghiên cứu thực nghiệm trước có tác động không ổn định, điều này sẽ được trình bày với từng yếu tố cụ thể trong phần sau.
Nghiên cứu này kì vọng tìm kiếm thêm và kiểm định lại các tác động của các yếu tố này trong trường hợp ở Việt Nam. Các yếu tố đặc điểm ngành tác động đến gia nhập ngành Mặc dù có rất nhiều các yếu tố khác nhau tác động đến gia nhập ngành, nghiên cứu lựa chọn phân tích các đặc điểm ngành truyền thống là: khác biệt về sản phẩm, lợi thế kinh tế tuyệt đối, lợi thế kinh tế theo quy mô, mức độ tập trung ngành, vốn trang bị trên một lao động, nghiên cứu phát triển và kì vọng lợi nhuận ngành. Có ba khái niệm được đưa ra để khảo sát thêm ở Việt Nam là chi phí giao dịch không chính thức, xuất khẩu và đất đai. Khác biệt sản phẩm Khác biệt sản phẩm là một yếu tố truyền thống của hàng rào gia nhập ngành.
Theo Bain (1956), sự khác biệt có thể đến từ nhãn hiệu, quảng cáo, dịch vụ khách hàng hoặc các khác biệt về vật lý. Một doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt về sản phẩm chính là để ngăn chặn doanh nghiệp gia nhập tiềm năng. Tất cả các trường phái nghiên cứu về hàng rào gia nhập ngành đều cho rằng đây có thể là một trong những hàng rào gia nhập ghê gớm nhất (Bain 1956; Bass và cộng sự, 1978; Porter 1980). 12 Doanh nghiệp có thể tạo ra sự chú ý về nhãn hiệu và gia tăng lòng trung thành giữa người mua thông qua hành vi khác biệt sản phẩm, mà cụ thể ở đây là có thể thông qua quảng cáo.
Nếu các doanh nghiệp mới muốn cạnh tranh về khác biệt sản phẩm, họ sẽ phải tạo ra sự khác biệt sản phẩm tốt hơn các doanh nghiệp cũ. Chi phí mà doanh nghiệp mới gánh chịu do đó sẽ luôn cao hơn tương quan với chi phí của doanh nghiệp cũ bởi vì mức độ nhạy cảm về giá của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũ giảm. Phân tích này dựa trên giả định rằng lòng trung thành sẽ khiến người mua lựa chọn các sản phẩm có sẵn thay vì các sản phẩm của những doanh nghiệp mới. Khác biệt sản phẩm khiến khách hàng trở nên ít nhạy cảm với giá hơn.
Và khi đó lòng trung thành với nhãn hàng của khách hàng cho phép các doanh nghiệp đang hoạt động nâng giá bán mà không làm mất khách hàng (Bain 1956). Ngoài ra, doanh nghiệp cũ có lợi thế kinh tế theo quy mô, họ có thể nâng tổng chi phí của doanh nghiệp mới nhiều như mức nâng giá, kết quả là làm gia tăng mức quy mô hiệu quả tối thiểu của các doanh nghiệp mới, chẳng hạn như ép buộc các doanh nghiệp mới gia nhập cam kết mức sản lượng cao hơn. Bằng việc quảng cáo, các đối thủ đang tạo hàng rào thông qua hành vi khác biệt sản phẩm hoặc cố gắng duy trì lòng trung thành của khách hàng (Harrigan, 1983). Mặc dù các quảng cáo có thể là một chiều, thông tin của khách hàng về sản phẩm là không hoàn hảo về giá và số lượng.
Tuy vậy, quảng cáo có thể đưa lại lợi thế cho người tiên phong và ngăn chặn sản phẩm mới. Schmalensee (1982) chỉ ra rằng từ khi người mua không có thông tin hoàn hảo về chất lượng của sản phẩm mới, họ thông thường sẽ ưa thích sản phẩm của người cũ hơn. Sản phẩm này trở thành tiêu chuẩn chống lại các sản phẩm khác. Schmalensee (1983) thậm chí còn phát hiện ra mối quan hệ lý thuyết về đầu tư quảng cáo cao dẫn đến mức giá cao hơn, do đó khiến ngành đó hấp dẫn hơn với người mới gia nhập.
Còn theo Porter (1980), các ngành có mức độ khác biệt sản phẩm thấp cũng sẽ không hấp dẫn để gia nhập, một khi các ngành này thường nhận được mức độ hiệu quả cao hơn do lợi thế kinh tế theo quy mô. Tuy nhiên, điều này không dễ gặp với 13 các doanh nghiệp mới gia nhập. Điều này ngụ ý rằng cả hai mức khác biệt cao và thấp đều tạo ra hàng rào gia nhập, trong khi ngành có mức độ khác biệt trung bình có mức hàng rào thấp đối với các doanh nghiệp mới gia nhập. Lợi thế chi phí tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối về chi phí xuất hiện khi chi phí sản xuất một đơn vị của doanh nghiệp mới gia nhập cao hơn là doanh nghiệp đang hoạt động.
Điều này buộc doanh nghiệp mới muốn vào phải xem xét lại chi phí của mình. Theo Bain (1956), các lợi thế này có liên quan đến sự không hoàn hảo về phân bố các yếu tố sản xuất. Trong đó thời gian hoạt động là yếu tố quyết định. Các doanh nghiệp cũ hoạt động lâu đời hơn có các lợi thế về việc kiểm soát các yếu tố sản xuất.
Chẳng hạn, những doanh nghiệp này được lựa chọn đầu tiên về lao động kĩ năng, địa điểm nhà xưởng, có kênh phân phối lâu đời, các khách hàng truyền thống, hoặc cải thiện kĩ năng, kĩ thuật sản xuất. Lợi thế kinh tế theo quy mô Theo Stigler (1968), quy mô kinh tế biểu thị cho mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp, đo lường bằng sản lượng sản xuất và chi phí sản xuất ở mức hợp lý lớn nhất. Lợi thế kinh tế theo quy mô chính là trạng thái mang lại việc giảm chi phí sản xuất và phân phối trên mỗi đơn vị sản xuất khi năng lực doanh nghiệp hoặc nhà máy được tăng lên. Theo đó, năng lực sản xuất nên ở mức mà chi phí là nhỏ nhất.
Doanh nghiệp hoạt động với đường cong chi phí được cho là hiệu quả theo quy mô và có kích thước tối ưu (Bain 1956, Stigler, 1968; Yip, 1982). Điểm sản lượng có mức hiệu quả thấp nhất có thể được gọi là quy mô hiệu quả tối thiểu (MES). Ở mức MES, các doanh nghiệp được coi là có kích thước hiệu quả tối thiểu (MEP). Mức MES của ngành càng cao, doanh nghiệp mới gia nhập có thể phải hoạt động ở dưới mức quy mô tối ưu.
Điều này dẫn dến hạn chế gia nhập ngành bởi vì quy mô sản xuất cần phải ở 14 một mức tối thiểu nào đó để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp lại chi phí cố định và giữ cho chi phí trung bình ở mức thấp. Mức độ tập trung ngành Theo Bain (1956) cũng như Stigler (1958) và trường phái phân tích theo hướng quản trị chiến lược doanh nghiệp, mức độ tập trung ngành là một hàng rào quan trọng. Thị trường thường xuyên diễn ra sự tương tác giữa các doanh nghiệp với nhau để giành lấy thị phần. Chính vì thế số lượng doanh nghiệp trong ngành chưa hẳn phản ánh được mức độ cạnh tranh trong thị trường đó và do đó số lượng không phải là một phương pháp tốt để đo lường.
Ngay cả khi thị trường có nhiều doanh nghiệp hoạt động, nhưng thị phần lại rơi vào một số ít các doanh nghiệp nắm giữ thì thị trường đó đang có một hàng rào gia nhập đối với các doanh nghiệp tiềm năng. Vốn trang bị trên một lao động Trong kinh tế học cổ điển, vốn và lao động cũng là hai nhân tố được khảo sát và nghiên cứu nhiều nhất. Trong hoạt động của doanh nghiệp, vốn và lao động là hai nguồn lực chính. Theo Bain (1956), nhu cầu về vốn được xem là đặc điểm tự nhiên của một ngành và đồng thời là một hàng rào gia nhập ngành.
Khi thành lập một doanh nghiệp, cần phải có một lượng vốn ban đầu nhất định. Do đó, các doanh nghiệp tiềm năng sẽ đối mặt với hàng rào về vốn trước những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động. Trong một số ngành nhất định, quy mô vốn ban đầu là rất quan trọng. Chẳng hạn như các ngành lọc hóa dầu hay sản xuất dược phẩm.
Vì thế, nó được xem như một hàng rào gia nhập cơ bản. Nghiên cứu và phát triển Nghiên cứu và phát triển (R&D) được xem như là nhân tố hạn chế gia nhập ngành. Các ngành có mức độ nghiên cứu phát triển cao được xem là hàng rào gia nhập ngành. Các ngành nhạy cảm với R&D có thể không khuyến khích doanh nghiệp 15 mới nhảy vào bởi áp lực giá có sẵn hoặc lợi thế chi phí tuyệt đối (Harrigan, 1981).
Mặt khác, doanh nghiệp cũ có thể ngăn chặn đối thủ bằng cách đầu tư thêm vào R&D để (1) gia tăng hiệu quả lợi thế kinh tế theo quy mô theo công nghệ của họ hoặc (2) ép buộc ngành hiện tại phải tiến hóa theo phương pháp sản xuất mới khiến những nỗ lực gia nhập sẽ không hiệu quả. Hiệu quả này còn mạnh hơn nếu mức giá là cứng nhắc2. Tuy vậy, có nhiều tranh cãi về tác động của nghiên cứu và phát triển đến gia nhập ngành theo các dòng lý thuyết. Ở hướng ngược lại, một vài nghiên cứu khác phát hiện ra rằng giữa R&D và gia nhập ngành không có mối quan hệ.
Các nhà nghiên cứu quản trị chiến lược cho rằng các doanh nghiệp tiềm năng ưa thích tham gia vào các ngành có mức độ đầu tư nghiên cứu và phát triển cao. Yip (1982) đề xuất rằng những thay đổi mang tính công nghệ đã tạo ra sự mất cân bằng thị trường và do đó hấp dẫn các doanh nghiệp mới. Một yếu tố giải thích khác là các doanh nghiệp tiềm năng rất năng động và có khả năng mua công nghệ mới nhất từ bên ngoài. Tuy nhiên, không có nghĩa là các doanh nghiệp cũ không làm được điều này.
Mức tăng trƣởng lợi nhuận ngành Gia nhập ngành có thể được xem như là một quyết định đầu tư. Với khoản tiền của mình, các nhà đầu tư luôn mong muốn kiếm lời tốt nhất. Có sự kì vọng rằng ngành nào có lợi nhuận lớn thì hấp dẫn nhiều người tham gia hơn là ngành có lợi nhuận thấp. Schamalensee (1989) cho rằng lợi nhuận của các doanh nghiệp cũ đang hoạt động có liên quan đến hàng rào gia nhập ngành.