CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1. TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC 1. Khái niệm: Cổ tức được hiểu là một phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành để chi trả cho các cổ đông (chủ sở hữu công ty). Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần.
Cổ tức là nhau cho mọi cổ phiếu cùng một loại, hoặc cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) hoặc cổ phiếu ưu đãi. Sau khi thông báo chi trả cổ tức được công bố, cổ tức trở thành khoản phải trả của công ty. Quá trình chi trả cổ tức Các công ty ở Mỹ thường trả cổ tức hàng quý. Còn ở Việt Nam các công ty thường trả cổ tức 2 lần/năm.
Cổ tức thường được đề xuất bởi Hội đồng quản trị và sau đó được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông. Tiến trình chi trả cổ tức diễn ra như sau: Ngày công Ngày không Ngày chốt Ngày thanh bố cổ tức danh sách toán 2 đến 3 tuần 2 ngày làm việc 2 đến 3 tuần Sơ đồ 1. Quá trình chi trả cổ tức Ngày công bố (declaration date): là ngày công ty công bố mức chi trả cổ tức. Đây là ngày quan trọng bởi vì thông qua việc công bố cổ tức, công ty thông tin đến cho cổ đông là mức cổ tức là tăng, giảm, hay vẫn ổn định.
Vì vậy, nếu công ty thay đổi cổ tức đột ngột thì đây là ngày mà thường trên thị trường phản ứng sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Trang 5- xuất hiện rất rõ. Ngày không cổ tức (ex-divedend date): Vào ngày này người mua cổ phần không được hưởng cổ tức nhưng người bán vẫn được quyền hưởng cổ tức. Giá tham chiếu của cổ phiếu sau ngày này thường được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá và ngược lại. Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức được tính bằng giá đóng cửa của cổ phiếu trong phiên trước đó trừ đi giá trị cổ tức.
Ví dụ: FPT thông báo chi trả cổ tức năm 2010 cho cổ đông. Cổ tức bằng tiền 15% mệnh giá (mệnh giá 10.000 VNĐ); bằng cổ phiếu tỷ lệ 10:6. Ngày đăng ký cuối cùng 24/06/2011, ngày giao dịch không hưởng quyền 22/06/2011. Giá của cổ phiếu FPT cuối phiên ngày 21/06/2011 là 50.
Giá tham chiếu của cổ phiếu FPT vào ngày 22/06/2011 được tính lại như sau: 50.000 Giá tham chiếu: 45.755đ 1 0,6 Như vậy, giá tham chiếu của cổ phiếu FPT vào ngày 22/06/2011 là 45.755đ chứ không phải lấy giá đóng cửa phiên liền trước tức 50. Ngày chốt danh sách hay ngày đăng ký (record date): Cổ tức công bố sẽ được phân phối cho những ai là cổ đông đăng ký tính đến ngày cụ thể này. Ngày thanh toán cổ tức (dividend payment date): là ngày cổ tức được gửi đến cho các cổ đông đăng ký. Các phương thức chi trả cổ tức 1.
Cổ tức trả bằng tiền mặt Cổ tức tiền mặt là loại cổ tức phổ biến nhất. Cổ tức tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà công ty thanh toán cho cổ đông tính trên phần trăm mệnh giá một cổ phần. Mệnh giá là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu. Hiện nay các cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam điều có mệnh giá thống nhất 10.
Ví dụ: VNM thông báo chi trả cổ tức đợt 1 năm 2010 bằng tiền mặt, tỷ lệ 30% TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Trang 6- mệnh giá. Nghĩa là mỗi cổ phiếu nhận được cổ tức 10. Cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận được tiền cổ tức là 100x 3.000đ Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán, tức giảm nguồn vốn chủ sở hữu. Cổ tức trả bằng cổ phiếu Trả cổ tức bằng cổ phiếu là công ty chi trả cổ phần thường cho các cổ đông nắm giữ cổ phần thường theo tỷ lệ nhất định và công ty không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông.
Ví dụ: ABT thông báo chi trả cổ tức đợt 1 năm 2010 bằng cổ phiếu, tỷ lệ 5:1, hay 20%. Nghĩa là cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 20 cổ phiếu. Hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu được áp dụng khi doanh nghiệp dự định giữ lại lợi nhuận cho các mục đích đầu tư và muốn làm an lòng cổ đông. Khi thực hiện giao dịch này không có sự thay đổi (tăng hay giảm) nào về vốn cổ đông cũng như tài sản của công ty.
Về cơ bản, số lượng cổ phiếu sẽ tăng lên và làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên nhưng tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông cũ không đổi. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như việc tách cổ phiếu. Cả hai trường hợp đều làm số lượng cổ phần tăng lên và giá trị cổ phần giảm xuống. Trong khi trả cổ tức bằng cổ phiếu làm tài khoản chủ sở hữu tăng lên và lợi nhuận chưa phân phối giảm xuống, trong khi đó tách cổ phiếu làm giảm mệnh giá mỗi cổ phần.
Cổ tức trả bằng tài sản khác: Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu. Hình thức này rất hiếm xảy ra trong thực tiễn. Hiện nay pháp luật Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp chia cổ tức bằng tài sản khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1. Khái niệm: Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các cổ đông một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai thông qua tái đầu tư, còn cổ tức mang lại cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình hiện tại. Vì thế, chính sách cổ tức sẽ ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu đo lường chính sách cổ tức: 1. Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio): Tỷ lệ chi trả cổ tức phản ánh mức cổ tức mà cổ đông được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập trong kỳ do công ty tạo ra và được đo lường như sau: Cổ tức mỗi cổ phần (DPS) Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) Đây là một trong những nhân tố quyết định đến giá thị trường của cổ phần. Ví dụ: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (mã chứng khoán: AGF) chi trả 2000đ tiền cổ tức năm 2010 cho cổ đông. EPS năm 2008 của AGF là 3.
2000 Vậy tỷ lệ chi trả cổ tức của AGF năm 2008: 61%. 3280 Như vậy, AGF đã trích 61% thu nhập để chi trả cổ tức cho các cổ đông, chỉ giữ lại 39% cho tái đầu tư. Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield or Dividend-Price ratio) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Trang 8- Tỷ suất cổ tức phản ánh tỷ số cổ tức của cổ phiếu so với giá thị trường và được đo lường như sau: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ suất cổ tức = Giá thị trường mỗi cổ phần Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm 2 phần cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần. Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn đã xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư.
Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần. Ví dụ xem xét mức chia cổ tức năm 2008 của các công ty như sau: ĐVT: VNĐ Mã chứng Giá thị trường Tên công ty Cổ tức 2010 Tỷ suất cổ tức khoán 31/12/2010 Công ty cổ phần ABT XNK thủy sản Bến 5.000 11,63% Tre Công ty cổ phần sữa VNM 3.000 3,49% Việt Nam Ta thấy, tỷ suất cổ tức của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre (11,63%) cao hơn nhiều so với công ty cổ phần sữa Việt Nam (3,49%). Nếu một nhà đầu tư quan tâm đến thu nhập cổ tức hơn là thu nhập lãi vốn thì sẽ chọn cổ phiếu của công ty cổ phần XNK Bến Tre TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức Trong thực tế có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức.
Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản sau cần được cân nhắc khi các nhà quản trị lựa chọn một chính sách cổ tức cho công ty mình. Các hạn chế pháp lý Hầu hết các quốc gia đều có luật để điều tiết việc chi trả cổ tức của những doanh nghiệp đã đăng ký hoạt động kinh doanh ở nước đó. Vì vậy khi ấn định chính sách cổ tức thì các doanh nghiệp cần phải cân nhắc các hạn chế sau như các nguyên tắc về mặt pháp lý: - Hạn chế suy yếu vốn: tức là doanh nghiệp không thể dùng vốn để chi trả cổ tức. Ở một số các quốc gia trong đó có Việt Nam, vốn được định nghĩa chỉ bao gồm mệnh giá của cổ phần thường, trong khi ở một số các quốc gia khác, vốn được định nghĩa bao quát hơn, gồm cả phần vốn góp vượt quá tài khoản mệnh giá (thường được gọi là thặng dư vốn).
- Hạn chế lợi nhuận ròng: tức cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và thời gian qua. Hạn chế này đòi hỏi một công ty phải có phát sinh lợi nhuận trước khi được phép chi trả cổ tức tiền mặt. Điều này nhằm ngăn cản các chủ sở hữu rút lại vốn đầu tư ban đầu và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ. - Hạn chế mất khả năng thanh toán: tức không thể chi trả cổ tức khi công ty mất khả năng thanh toán (nợ nhiều hơn tài sản), nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của các chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp.
Các điều khoản hạn chế Các điều khoản hạn chế nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản và các thỏa thuận cổ phần ưu đãi.