Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này, bài nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, phạm vi nghiên cứu cũng như tổng quan về phương pháp hồi quy, nguồn dữ liệu. Chương 2: Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của các nhân tố vi mô đến cấu trúc vốn của công ty. Chương này trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cũng như tại Việt Nam về sự tác động của những nhân tố vi mô đến cấu trúc vốn của các công ty. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, Chương này sẽ trình bày cụ thể về mô hình hồi quy, các kiểm định của mô hình, nguồn và cách lấy dữ liệu cũng như định nghĩa về các biến và đưa ra các giả thuyết trong bài.
Chương 4: Bằng chứng tại Việt Nam về tác động của các nhân tố vi mô đến cấu trúc vốn của các công ty trong Ngành Thép. Chương này trình bày kết quả thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan giữa các biến, đưa ra kết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 quả hồi quy và thảo luận các kết quả này nhằm trả lời cho các vấn đề đặt ra trong phần mục tiêu nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, Chương này sẽ tóm tắt tất cả các kết quả nghiên cứu, trình bày những hạn chế và đưa ra đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: NHỮNG BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VI MÔ ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÔNG TY Đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, cấu trúc vốn được xem như là cơ sở nền tảng để thiết lập một hệ thống tài chính ổn định và bền vững, chính vì vậy từ trước đến nay có rất nhiều bài nghiên cứu quan tâm đến chủ đề này, nhiều phân tích cũng như bằng chứng thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu xác định những nhân tố vi mô tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Chudson năm 1945 thấy rằng các công ty có tỷ lệ tài sản cố định cao có xu hướng sử dụng nhiều nợ dài hạn hơn. Còn trong nghiên cứu của Gordon năm 1962 thì nhận định rằng công ty có quy mô càng lớn thì đòn bẩy tài chính càng cao và tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư có tương quan âm với tỷ lệ nợ và cũng đã xác nhận rủi ro kinh doanh có tương quan âm với tỷ lệ nợ. Trong nghiên cứu của mình năm 1967, Baxter kết luận rằng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự biến động của thu nhập ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh, sự biến động này được đo lường bằng phương sai của thu nhập ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng có bằng chứng cho thấy rằng có mối tương quan âm giữa phương sai của thu nhập ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính. Năm 1967, Schwartz và Aronson thực hiện một nghiên cứu và kết luận rằng cấu trúc vốn được đo bằng giá trị sổ sách không thay đổi đáng kể trong một ngành công nghiệp, nhưng khác nhau giữa các ngành công nghiệp.
Trong nghiên cứu của Gupta năm 1969, nhận thấy rằng tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp có tương quan dương với tỷ lệ nợ và quy mô hoạt động của doanh nghiệp tương quan âm với tỷ lệ nợ. Theo nghiên cứu của Hat năm 1980 thì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 cho rằng đòn bẩy tài chính không liên quan đến quy mô hoạt động và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và ông kết luận rằng có mối tương quan âm giữa đòn bẩy tài chính và khả năng trả lãi các khoản vay và chi trả cổ tức. Năm 1984 Myers và Majluf đã xây dựng bộ lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết này ủng hộ mạnh mẻ việc dùng nguồn lực nội bộ để thay thế nguồn lực bên ngoài, giúp giải thích mối tương quan âm giữa khả năng sinh lợi và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Trong quản trị tài chính ưu tiên sử dụng nguồn lực nội bộ, sau đó là nợ và cuối cùng là tài trợ bằng nguồn vốn chủ sử hữu mới phát hành.
Có rất nhiều bài nghiên cứu được thực hiện ở các ngành nghề khác nhau ở những quốc gia khác nhau để kiểm định những nhân tố có tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, trong số đó là các nghiên cứu được đề cập dưới đây: Năm 2003, Philippe đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty trên thị trường chứng khoán Thụy Sĩ. Nghiên cứu này phát hiện thấy rằng quy mô hoạt động của công ty, tài sản hữu hình và rủi ro kinh doanh tương quan dương với đòn bẩy tài chính, trong khi tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận tương quan âm với đòn bẩy tài chính. Năm 2008, Joshua nghiên cứu về cấu trúc vốn của các công ty được niêm yết và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) ở Ghana. Các kết quả kiểm định cho thấy rằng số năm hoạt động, quy mô hoạt động, cấu trúc tài sản, khả năng sinh lợi, rủi ro và quyền lực quản trị có tác động lớn đến cấu trúc vốn của các công ty Ghana.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các nhân tố như giới doanh nhân, tình trạng xuất khẩu, ngành công nghiệp, vị trí của công ty và hình thức kinh doanh tác động lớn đến sự lựa chọn cấu trúc vốn của công ty. Faruk Hossain, Ayub Ali vào năm 2008 đã thực hiện một nghiên cứu về tác động của các nhân tố đến quyết định về cấu trúc vốn của 39 công ty niêm yết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trên sàn chứng khoán Dhaka của Bangladeshe trong giai đoạn 2003-2007. Qua nghiên cứu này tác giả đã phát hiện ra rằng khả năng sinh lời, tài sản hữu hình, tính thanh khoản, và quyền sở hữu có tương quan âm với đòn bẩy tài chính và tốc độ tăng trưởng, tấm chắn thuế từ khấu hao có tương quan dương khá mạnh với đòn bẩy tài chính. Quy mô hoạt động, biến động thu nhập, chi trả cổ tức không có tác động đến quyết định cấu trúc vốn của các công ty.
Năm 2009, Amarjit Gill, Nahum Biger, Chenping Pai và Smita Bhutani đã nghiên cứu các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của 300 công ty trong ngành công nghiệp dịch vụ tại Mỹ giai đoạn 2004-2005. Họ phát hiện ra rằng: tỷ lệ tài sản cố định, khả năng sinh lợi tương quan âm với đòn bẩy tài chính và các nhân tố như tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp, tấm chắn thuế, quy mô hoạt động, tốc độ tăng trưởng không phải là nhân tố quyết định đến cấu trúc vốn của các công ty trong ngành công nghiệp dịch vụ tại Mỹ. Năm 2010, Hidenobu Okuda và Lai Thi Phuong Nhung đã thực hiện nghiên cứu về cấu trúc vốn và hành vi đầu tư của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 đến 2009. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khả năng sinh lợi và tốc độ tăng trưởng có tương quan âm với đòn bẩy tài chính và quy mô hoạt động, tài sản thế chấp có tương quan dương với đòn bẩy tài chính.
Năm 2011, Chandra Sekhar Mishra đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 48 công ty nhà nước trong lĩnh vực sản xuất của Ấn Độ giai đoạn 2006-2010. Họ phát hiện ra rằng: tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng có mối tương quan dương với đòn bẩy tài chính, ROA và thuế có mối tương quan âm với đòn bẩy tài chính. Các nhân tố khác như: tấm chắn thuế từ khấu hao (NDTS), rủi ro kinh doanh và quy mô hoạt động không có ý nghĩa trong nghiên cứu. Năm 2011, Mahvish Sabir, Qaisar Ali Malik đã thực hiện một nghiên cứu về các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của 5 công ty dầu khí ở Pakistan giai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh lợi là biến duy nhất có tương quan âm với đòn bẩy tài chính, trong khi ba biến khác là tính thanh khoản, quy mô hoạt động và tỷ lệ tài sản cố định có tương quan dương với đòn bẩy tài chính. Năm 2011, Shun-Yu Chen Li-Ju Chen đã nghiên cứu các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của 647 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan từ năm 2005-2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy: khả năng sinh lợi có tương quan âm với đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tài sản cố định và quy mô hoạt động có tương quan dương với đòn bẩy tài chính của các công ty. Cũng trong năm 2011, Sarbapriya Ray đã nghiên cứu những nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của công ty Ngành Sắt & Thép tại Ấn Độ.
Nghiên cứu này đã xem xét tác động của 9 nhân tố quyết định đến cấu trúc vốn bao gồm: tỷ lệ tài sản cố định, tỷ lệ tài sản thế chấp, khả năng sinh lợi, quy mô hoạt động, số năm hoạt động, rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế từ khấu hao, tính thanh khoản, tốc độ tăng trưởng. Bằng cách sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và chạy nhiều phân tích hồi quy các số liệu của 43 công ty Thép của Ấn Độ cho giai đoạn 1991-1992 đến 2009-2010. Kết quả nghiên cứu như sau: mô hình giải thích khoảng 46% sự thay đổi trong tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần. Thống kê t là đáng kể đối với hầu hết các biến.
Tỷ lệ tài sản cố định, quy mô hoạt động và tấm chắn thuế từ khấu hao có tương quan dương với đòn bẩy tài chính, phù hợp với nhiều kết quả nghiên cứu trước đó. Số năm hoạt động, lợi nhuận và tỷ lệ tài sản thế chấp tương quan âm với đòn bẩy tài chính. Các nhân tố khác như rủi ro kinh doanh, tính thanh khoản, tốc độ tăng trưởng không có bất kỳ tác động đáng kể đến cấu trúc vốn. Dzung Nguyen, Ivan Diaz-Rainey và Andros Gregoriou trong năm 2012 đã nghiên cứu sự phát triển tài chính và cấu trúc vốn của 116 công ty không thuộc ngành tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam tăng nhanh về quy mô giai đoạn 2007-2010.
Phân tích hồi quy đa biến cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 thấy rằng: khả năng sinh lợi và tính thanh khoản có tương quan âm với đòn bẩy tài chính trong khi tốc độ tăng trưởng và sở hữu nhà nước lại có tương quan dương với đòn bẩy tài chính.